Luân lý và Đạo đức

Cuộc khủng hoảng hiện nay tại các nước Âu Mỹ có thể nói là đã lên tới đỉnh điểm với việc người ta hô hào nhau rời bỏ Giáo Hội “những vụ việc lạm dụng tình dục của các Linh Mục tại Đức, Ý và Ái Nhĩ Lan vừa được phơi bày ra ánh sáng đã làm nổi dậy một làn sóng giận dữ và khinh bỉ của quần chúng. Tôi đã nhận được những Email từ nhiều người trong khắp Âu Châu, đặt câu hỏi: làm thế nào họ có thể ở lại trong một Giáo Hội như thế được nữa? Không chỉ thế, tôi còn nhận được một đơn hướng dẫn phải điền như thế nào để rời bỏ Giáo Hội. Sao phải ở lại? (Lm. Timothy Radcliffe, OP. – Vietcatholic News 14, April 2010).

Với câu hỏi “Sao phải ở lại?” của vị Linh Mục tác giả bài báo khiến chúng ta nhớ lại Lời Đức Kitô hỏi các Tông Đồ: “Còn các ngươi cũng muốn bỏ đi ư? Simon Phêrô đáp: Thưa Thầy, bỏ Thầy chúng tôi biết theo ai? Thầy có sự sống đời đời” (Ga 6, 67 – 68). Câu trả lời của Phêrô nói lên sự xác tín vào Đức Kitô: duy chỉ Ngài mới có thể đem lại Sự Sống đời đời. Sự xác tín ấy cũng là của các Tông Đồ, của Hội Thánh, tức toàn thể tín hữu: “Chúng tôi tin thật trong lòng và tuyên xưng ra ngoài miệng rằng chỉ có một Hội Thánh La Mã Công Giáo tông truyền. Ngoài Hội Thánh ấy chúng tôi tin rằng không ai được cứu rỗi” (Lời tuyên xưng Đức Tin của những người lạc giáo Vaudois trở lại).

Tin nơi Đức Kitô tức là tin vào con đường cứu khổ cứu nạn của Ngài. Đức Tin ấy phải chân thật, có nghĩa vừa ở trong lòng, vừa thể hiện ra bên ngoài bằng hành động. Tin và thể hiện Đức Tin, đó chính là đạo đức Kitô giáo.

Đạo đức và luân lý thuộc hai lãnh vực khác nhau. Nói cho dễ hiểu thì đạo đức tức là đường Đạo, còn luân lý là đường Đời. Cái lẽ tất nhiên ở đây là: chỉ đi trên đường Đạo mới có thể đạt đến Đạo. Trái lại đi trên đường Đời thì chỉ quẩn quanh ở chốn cõi đời này mà thôi. Đức Kitô đến cõi thế, rao giảng Tin Mừng Nước Trời chính là để chỉ (mạc khải) đường Đạo cho con người. Đường Đạo và Đường Đời cũng là một, không khác với mệnh lệnh tìm kiếm của Giavê Thiên Chúa “Các ngươi sẽ tìm Ta và gặp được khi các ngươi hết lòng tìm” (Gr 29, 13). Đạo mà con người phải hết lòng tìm kiếm ấy rất chi khó để mà gặp, lý do bởi vì nó không thể nói, không thể gọi tên. “Đạokhả Đạo phi thường Đạo – Danh khả Danh phi thường Danh” (Đạo có thể nói lên được, đó không phải là Đạo thường – Danh có thể gọi tên ra được, đó không phải Danh thường – Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương một).

Mặc dù không thể nói, không thể gọi, nhưng Đạo ấy lại phải rao truyền cho muôn dân. Không rao không truyền thì có ai biết mà theo, mà thực hành? Chính bởi không thể nói, không thể gọi nhưng lại phải loan truyền, thế nên đành phải túng gượng mà đặt tên này tên nọ. Đức Kitô có khi gọi Đạo ấy là Nước Trời, có khi xưng tụng là Đấng Cha. Không thể nói, không thể gọi, nhưng lại cứ phải nói phải gọi, bởi thế cho nên mới nhiễu sự: mỗi người mỗi phách diễn giải đủ cách đủ kiểu mà người ta gọi đó là Thần Học, là khoa học đào sâu tìm hiểu về Thiên Chúa v.v…

Một khi tự nhận là khoa học tức đã gạt bỏ con đường Đạo của Đức Kitô: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6). Không đi theo đường Đức Kitô thì làm sao mà có thể đến được với Đấng Cha tức Sự Sống Đời Đời? “Sự Sống Đời Đời là nhận biết Cha, tức Chân Thần duy nhất cùng Giêsu Kitô mà Cha đã sai đến” (Ga 17, 3). Bởi không đi đường Đức Kitô thế nên điều tất nhiên phải đến đó là phủ nhận Sự Sống Đời Đời bất sinh bất diệt để bám lấy (bảo vệ). Sự Sống hữu hình hữu hoại tức cái xác thân ô trọc này!

Phêrô “ở lại” để đi theo Chúa vì xác tín chỉ nơi Chúa mới có Sự Sống Đời Đời. Giả thử như còn nghi ngại hoặc không tin thì ông đâu có “ở lại”, và vì ông đã ở lại thế nên mới có Hội Thánh. Như vậy có thể nói: Hội Thánh Công Giáo tông truyền chính là cái kho chứa Sự Sống Đời Đời. Bao lâu những ai còn tin và ‘ở lại” trong Hội Thánh, tức còn đi trên Đường Đạo để đến với Sự Sống Đời Đời, ngược lại thì không.

Ngày nay trong cuộc khủng hoảng dữ dội này, người ta đang hô hào nhau rời bỏ Giáo Hội. Tin cho biết ngay tại quê hương Đức Thánh Cha, miền Bavaria, cũng đã có tới hơn một phần tư Giáo Dân có dự tính sẽ rời bỏ Đạo. Rời bỏ Giáo Hội vì bất kể lý do gì cũng là tự mình rời bỏ con đường Đạo là đường dẫn đến Sự Thật, Sự Sống.

Thực tế quả là hết sức đau lòng, thế nhưng cái gì cũng có nguyên nhân của nó và nguyên nhân sâu xa đưa đến việc rời bỏ này không phải vì có những tố giác này nọ, nhưng cần phải nhận ra nguồn gốc của nó là ở nơi cơn khủng hoảng đạo đức đã diễn ra từ lâu trong Giáo Hội.

I. Khủng hoảng đạo đức

Có thể nói lịch sử Giáo Hội là lịch sử của những cơn khủng hoảng. Nhưng rõ nét và nguy hiểm nhất phải kể đến chính là cuộc Phục Hưng (Renaissance) thế kỷ XIV tại nước Ý với trào lưu Nhân Bản (Humanisme). Từ nơi trào lưu tư tưởng này, ta thấy ảnh hưởng của nó trên F. Nietzche (1844 – 1900) ông tổ của Triết Hiện Sinh Vô Thần thật là sâu sắc với những lời lẽ biện minh cho một thứ đạo đức mới hết sức là lôi cuốn: “Anh em phải luôn trung thành với trái đất, trung thành với tất cả sức mãnh liệt của nhân đức anh em. Tình yêu và trí thức của anh em phải phụng sự ý nghĩa của trái đất. Tôi nài xin anh em điều đó. Hãy làm như tôi, hãy đem những nhân đức lạc đường trở về với trái đất. Phải hãy đem nhân đức trở về với thân xác và cuộc sống để nhân đức của anh em làm cho trái đất có ý nghĩa, nghĩa nhân bản. Từ nay nhân đức và tinh thần anh em chỉ phụng sự ý nghĩa của trái đất thôi. Nhờ đó tất cả mọi sự sẽ có một giá trị mới” (Trần Thái Đỉnh – Triết Học Hiện Sinh).

Không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng của Triết Hiện Sinh và ảnh hưởng rõ nhất đó là đã khiến Giáo Hội phải thay đổi lập trường: Thay vì cứu cánh là Thiên Chúa thì nay lại là con người. Cụ thể trước đây, con người được định nghĩa là hữu thể CÓ xác và hồn, thì nay lại LÀ xác LÀ hồn.



Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy rõ: “Tính nhất thể của linh hồn và thân xác rất sâu xa đến độ phải xem linh hồn là mô thể của thân xác, nghĩa là nhờ linh hồn mà thân xác được cấu tạobởi vật chất như thế mới là thân xác của con người sống động. Trong con người tinh thần và vật chất không phải là hai bản tính hiệp nhất với nhau nhưng sự hiệp nhất của chúng tạo nên một bản tính duy nhất, độc nhất” (GLHTCG số 365).

Do nơi định nghĩa con người là xác là hồn như thế, nên toàn bộ con đường đạo đức không thể không thay đổi. Trước đây đường Đạo là đường tìm kiếm thì nay không còn tìm kiếm chi nữa để quay sang “bảo vệ sự sống” vật chất xác thân. Công việc bảo vệ sự sống thân xác ấy được mệnh danh là “Tân Đạo Đức Sinh Học Kitô” (Nuova Bioetica Christiana). Công việc bảo vệ sự sống tức Tân Đạo Đức Sinh học này đã và đang phải đối phó với những vấn đề gai góc rất khó có thể giải gỡ.

1. Việc ngừa và phá thai

Giáo Hội kịch liệt lên án việc phá thai, tuy vậy vấn đề trở nên rối rắm khi người ta chưa nhất trí được với nhau về thời điểm khi nào phôi thai được coi là một nhân vị, tức có linh hồn? Mặt khác, có những trường hợp dị tật, quái thai hoặc bị cưỡng dâm v.v… ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng, nhân phẩm, hạnh phúc của người mẹ thì phải tư vấn cho chính nạn nhân ra sao?

2. Chuyển đổi giới tính

Có những người bẩm sinh thân xác là nam nhưng lại thuộc giới tính nữ hoặc ngược lại thì trong những nố này đạo đức phải xử trí thế nào? Cho chuyển đổi hay không cho chuyển đổi giới tính cũng đều khó xử với các đượng sự.

3. Biến đổi Gien di truyền

Cuộc cách mạng sinh học quan trọng nhất của thời đại ngày nay là con người có thể can thiệp vào thiên nhiên bằng cách làm biến đổi Gien. Người ta có thể lắp ghép chẳng những đối với thực vật mà với cả con người, hoặc cho thụ thai trong ống nghiệm. Việc này đưa đến nhiều hệ lụy lớn lao về đạo đức, chẳng hạn có thể chọn lựa ra những tinh trùng có phẩm chất theo ý muốn để sản xuất hàng loạt, gọi là ưu sinh. Giáo Hội có thể kết án, nhưng người đời vẫn có những lý lẽ của họ…

4. Sinh sản vô tính

Nếu việc ngừa thai làm cho con người có thể không sinh con nhưng vẫn có thú vui tình dục, còn việc thụ thai trong ống nghiệm tuy không cần phải có tình dục nhưng vẫn phải có tinh trùng của nam và noãn châu của nữ. Trái lại trong sinh sản vô tính, người ta chẳng cần chi đến tình dục hoặc nam nữ gì cả mà vẫn có thể sản sinh hàng loạt. Con cừu Dolly là một ví dụ…

Đến đây, một vấn đề nghiêm trọng đặt ra cho đạo đức sinh học đó là nếu việc sinh sản không cần gì đến nam nữ vợ chồng, vậy ta sẽ phải giải thích thế nào về mệnh lệnh của Thiên Chúa được ghi trong Kinh Thánh: “Đức Chúa Trời dựng nên người nam cùng người nữ, ban phước cho họ và phán rằng: hãy sanh sản thêm nhiều làm cho dẫy đầy mặt đất” (Stk 1, 27 – 28). Nếu hiểu lời Kinh Thánh này theo nghĩa đen, tức có người nam người nữ thật, đồng thời họ phối ngẫu với nhau thành vợ chồng để lưu truyền nòi giống thì ta phải giải thích thế nào về việc thụ tinh trong ống nghiệm, hơn nữa việc sinh sản vô tính, chẳng lẽ con người lại có thể phá hủy và không cần gì đến định luật của Đấng Tạo Hóa?

Mặt khác, việc sinh sản ấy nếu chỉ sản sinh ra những con người thì chẳng lẽ tôn giáo lại có thể khuyến khích cho việc bùng nổ dân số hay sao? Có quan điểm cho rằng chính Kitô giáo là nguyên nhân của việc các nước phương Tây trong các thế kỷ 16, 17 đổ xô đi xâm chiếm, khai thác thuộc địa. Đồng thời gây ra không biết bao nhiêu là vấn đề vô phương cứu gỡ như bùng nổ dân số, ô nhiễm môi sinh môi trường v.v…?

Kinh Thánh, đặc biệt là Sách Sáng Thế, không thể được giải theo nghĩa đen mà phải theo huyền nghĩa tức là việc sanh sản ở đây cần phải hiểu, đó là sanh ra con cái Thiên Chúa bằng cách lắng nghe Lời Ngài. Trả lời những người trách cứ Chúa Giêsu là người mà lại dám xưng mình là Con Thiên Chúa, Ngài đáp: “Trong Sách Luật (TV 82, 6) của các ngươi há chẳng chép rằng: Ta đã nói các ngươi là Thần hay sao? Nếu Chúa gọi những kẻ nghe Đạo Đức Chúa Trời là Thần (mà Kinh Thánh thì không thể bỏ được) thì Ta đây là Đấng Cha đã biệt ra Thánh và sai xuống thế gian nói rằng Ta là Con Đức Chúa Trời, cớ sao các ngươi lại cáo Ta là lộng ngôn?” (Ga 10, 33 – 36).

Như trên đã nói, chỉ khi nào đi trên Đường Đạo (đạo đức) thì mới có thể đến được Đạo, tức trở nên con cái Thiên Chúa. Ngược lại đi theo đường Đời (luân lý) thì cái cao tột của nó cũng chỉ có thể là làm người với biết bao hệ lụy phải gánh chịu của kiếp làm người: sinh lão bệnh tử… Đức Kitô xuống thế, kêu mời chúng ta đi theo Ngài hầu cho ta được làm Con Chúa chứ chẳng phải để làm người mà cần chi đến việc bảo vệ sự sống xác thân? Bởi những lẽ đó chúng ta không thể không biện biệt đâu là đường Đạo đâu là đường Đời hầu cho có thể vững tâm theo Chúa.



II. Sự khác biệt giữa luân lý và đạo đức

Luân lý có thể thay đổi, còn đạo đức thì không. Trong xã hội Hồi Giáo, đàn ông có thể lấy bốn vợ mà không luật pháp nào ngăn cấm, Trái lại bên Âu Mỹ thì luật pháp cấm đa thê, chẳng những luật pháp cấm, mà người nào như thế sẽ bị người đời cười chê phỉ nhổ. Luân lý chẳng qua cũng chỉ là những tập tục được một nhóm người, một địa phương nào đó chấp nhận, lâu ngày thành một thứ luật lệ bất thành văn. Xưa kia ở nước ta, đàn ông búi tó củ hành, đàn bà mặc váy nhuộm răng đen, được cho là nam nhi là nữ lưu, còn bây giờ thì…? Luân lý có thể thay đổi còn đạo đức thì không, dù bất cứ trong thời gian, không gian nào. Sự phân biệt đâu là luân lý đâu là đạo đức, chúng ta có thể lấy dẫn chứng từ nơi Kinh Thánh.

Có anh thanh niên đến hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy tôi phải làm việc lành chi để được sự sống đời đời? Chúa đáp… ngươi muốn vào sự sống thì hãy giữ các điều răn… chớ giết người, chớ gian dâm, trộm cắp, làm chứng dối, hãy hiếu kính cha mẹ và hãy yêu thương kẻ lân cận như mình”. Gã trai trẻ thưa rằng: “Mọi điều đó tôi đã vâng giữ, còn thiếu điều chi nữa?” Chúa đáp: “Nếu ngươi muốn nên trọn lành, hãy về và bán hết của cải ngươi mà cho kẻ nghèo thì ngươi sẽ có của báu ở trên trời rồi hãy đến theo Ta. Nhưng người trẻ kia nghe lời ấy thì buồn rầu bỏ đi, vì y ta có tài sản nhiều lắm” (Mt 19, 16 – 22).

Ở đây ta thấy, người thanh niên đã thực hiện tất cả những điều răn trọng yếu, thiết tưởng với những việc làm ấy anh ta đã xứng đáng để có được Sự Sống Dời Dời. Thế nhưng đối với Chúa và ngay cả với bản thân, anh vẫn cảm nhận nơi mình một nỗi bất an nào đó chưa được thanh thỏa. Chính vì vậy mà anh mới đến gặp Chúa xin Ngài chỉ dạy. Tuy nhiên khi nghe Ngài nói phải về bán hết gia sản sự nghiệp để đi theo Ngài thì anh đã buồn rầu thối lui. Người thanh niên đã chỉnh chu giữ các giới răn, điều ấy kể ra đã tốt lắm rồi. Thế nhưng đó vẫn còn trong phạm vi luân lý chứ chưa phải đạo đức.

Chúa bảo phải về bán hết gia sản sự nghiệp, bởi vì đó là những thứ cản trở con đường Đạo, cũng tức là con đường “bỏ mình” theo Chúa: “Ai muốn theo Ta thì phải bỏ mình vác thập giá mình hàng ngày mà theo. Vì hễ ai muốn cứu mạng sống mình thì phải mất, còn hễ ai vì cớ Ta mà mất mạng sống mình thì sẽ tìm lại được. lời lãi cả và thế gian mà mất linh hồn mình thì nào được ích gì?” (Mt 16, 24 – 26).

Cứu lại mất, bỏ lại được, đây là một nghịch lý của Đạo Chúa, và cũng chính bởi nghịch lý mang tính ngược dòng mê lưu này mà chúng ta, những con người theo Chúa đã bị thế gian ghét bỏ: “Nếu các ngươi thuộc về thế gian thì thế gian chắc là sẽ yêu mến kẻ thuộc về nó. Nhưng vì các ngươi không thuộc thế gian, song Ta đã lựa chọn các ngươi ra khỏi thế gian, nên thế gian ghen ghét các ngươi. Hãy nhớ lại lời Ta đã nói cùng các ngươi: Tớ chẳng hơn chủ, nếu họ đã bắt bớ Ta ắt cũng bắt bớ các ngươi. Bằng họ đã giữ Lời Ta, ắt cũng giữ lời các ngươi. Nhưng vì cớ Danh Ta họ sẽ làm mọi điều đó cho các ngươi, bởi họ không biết Đấng đã sai Ta. Nếu Ta không đến mà phán dạy họ thì họ chẳng có tội gì. Song bây giờ họ không thể tạ từ để chữa chạy tội mình được” (Ga 15, 19 – 22).

Thế gian hiện giờ đang về hùa với nhau để vu vạ cáo gian cho vị thủ lãnh Giáo Hội và rồi chắc chắn sẽ còn tiếp nối những vụ bắt bớ bách hại. Tất cả những điều này đã được Chúa nói cho biết, bởi vậy chúng ta vẫn cứ vững lòng mà “ở lại”. Dẫu vậy, kẻ nào làm điều ác sẽ phải lãnh quả ác, nhất là đối với những con người nào đã được nghe, được biết Lời Chúa, họ sẽ không thể chữa tội mình được.

PHÙNG VĂN HÓA


Theo báo Ephata số 545

Thai nhi đã biết học tiếng mẹ đẻ

Trẻ em bắt đầu học ngôn ngữ từ trước khi chào đời, tức là khi còn là bào thai trong bụng mẹ, theo một nghiên cứu mới. 

Các nhà nghiên cứu phát hiện, trẻ em bắt đầu học ngôn ngữ từ khi còn trong bụng mẹ và chỉ vài giờ đồng hồ sau khi sinh đã có khả năng phân biệt âm thanh của tiếng mẹ đẻ với âm thanh của ngoại ngữ. (Ảnh: UW Today)
Trước đây, người ta vẫn tin rằng, trẻ sơ sinh bắt đầu có khả năng phân biệt các âm thanh ngôn ngữ trong vòng vài tháng đầu đời. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới phát hiện, trẻ có khả năng học hỏi và ghi nhớ các âm thanh cơ bản của ngôn ngữ mẹ đẻ trong 10 tuần cuối của thai kỳ.

“Từ cách đây hơn 30 năm, chúng ta đã biết rằng, con người bắt đầu nhận biết giọng nói trước khi sinh bằng cách lắng nghe âm thanh từ các cuộc trò chuyện của mẹ mình. Tuy nhiên, đây là nghiên cứu đầu tiên cho thấy, con người bắt đầu học nhận biết các âm thanh lời nói nhất định của ngôn ngữ mẹ đẻ từ trước khi chào đời”, Christine Moon, giáo sư tâm lý học đến từ trường Đại học Pacific Lutheran (Mỹ) và là người dẫn đầu nghiên cứu, cho hay.

Theo các nhà nghiên cứu, chỉ vài giờ đồng hồ sau khi cất tiếng khóc chào đời, trẻ thậm chí có khả năng phân biệt các âm thanh của tiếng mẹ đẻ với các âm thanh của một ngoại ngữ.

Bọn trẻ được cho nghe các nguyên âm trong tiếng Thụy Điển hoặc tiếng Anh và chúng có thể kiểm soát số lần nghe các nguyên âm bằng cách mút một núm vú cao su kết nối với máy tính.

Các nguyên âm được chọn sử dụng trong nghiên cứu vì chúng nổi bật, và các nhà nghiên cứu tin rằng, chúng có thể dễ nhận biết trong lời nói liên tục của người mẹ, bất chấp các âm thanh nền ồn ào trong tử cung.

Ở cả 2 nước, những đứa trẻ sơ sinh đều mút núm vú cao su lâu hơn khi nghe ngoại ngữ so với khi nghe tiếng mẹ đẻ, dù trải nghiệm sau khi chào đời của chúng kéo dài bao lâu. Nhóm nghiên cứu nhận định, điều này ám chỉ trẻ đã học các âm nguyên âm từ trong bụng mẹ.

Patricia Kuhl, đồng tác giả nghiên cứu đến từ Đại học Washington, nhấn mạnh thêm rằng: “Chúng ta từng nghĩ trẻ học hỏi sau sinh nhưng hiện khám phá ra rằng hoạt động học hỏi này thậm chí diễn ra sớm hơn. Chúng hoàn toàn không mù mờ về âm tiết khi chào đời”.


Tuấn Anh

Theo Vietnamnet

10 lý do phong trào BVSS đang chiến thắng nạo phá thai

CÂU CHUYỆN HÔM NAY


Theo dõi tin tức, người ta khó lòng lạc quan trước những điều xảy ra về đạo đức luân lý ngày càng xuống dốc, tha hoá của con người, do Satan sắp đặt và được những thế lực xấu xa, thù nghịch với Tin Mừng và Giáo Hội, thực hiện. Ngày càng có thêm những quốc gia hợp pháp hoá nạo phá thai. Thế nhưng linh mục Frank Pavone (*) lại có cái nhìn lạc quan về chiến thắng của phong trào bảo vệ sự sống. Và Ngài muốn đưa ra những dấu chỉ về chiến thắng ấy, chiến thắng nhọc nhằn, nhưng chắc chắn. Với Ngài, niềm tin chiến thắng được củng cố và xác tín qua hai yếu tố chính: 

1) Phong trào bảo vệ sự sống không hành động để có chiến thắng, mà điểm xuất phát của phong trào chính là chiến thắng. 

2) Quan trọng nhất,chính là chiến thắng của Chúa Ki-tô trên tử thần,bẻ gãy mọi quyền lực của sự chết và do đó, những gì liên quan đến sự dữ,sự chết, sẽ phải thất bại và những gì liên quan đến sự sống phải chiến thắng.


TU ES PETRUS kính chuyển bài phân tích rất độc đáo của Ngài.

MƯỜI LÝ DO PHONG TRÀO BẢO VỆ SỰ SỐNG ĐANG CHIẾN THẮNG NẠO PHÁ THAI

LM. Frank Pavone

Chúng ta đang tiến gần hơn đến chiến thắng cuộc chiến đấu nhằm chấm dứt nạo phá thai và phục hồi việc bảo vệ trẻ em trong dạ con hơn là các phương tiện truyền thông chủ đạo đang đưa tin. Để giúp các bạn nhìn thấy sự thật của nhận định ấy và truyền cảm hứng cho các bạn để nhắc lại cam kết đấu tranh của các bạn, đây là 10 dấu hiệu chỉ rõ sự việc rằng kết thúc của nạo phá thai ở Mỹ sẽ đến sớm hơn là các bạn tưởng. Tôi tin chắc về điều nầy, chúng ta sẽ không phải chờ thế hệ sau để lên kế hoạch và thực hiện mừng chiến thắng. Đó sẽ là công việc của chúng ta. Điều đó không có nghĩa là bạn có thể buông lỏng hoặc cho là đương nhiên. Thực ra, ngược lại là đàng khác! Chúng ta càng đến gẩn với chiến thắng, thì đối phương sẽ chiến đấu hung hãn hơn để giữ cho nạo phá thai hợp pháp và họ càng trở nên thù nghịch hơn. Nay chúng ta biết rõ sự yếu kém chủ chốt của phong trào nạo phá thai… cũng như những động năng bảo vệ sự sống mà đối phương không thể làm gì để ngăn chận được. Vì thế hãy tràn đầy hy vọng và dũng cảm! Chúng ta đã buộc cổ con quỷ nạo phá thai. Và đây là 10 dấu hiệu chỉ ra chiến thắng cuối cùng của chúng ta.



DẤU CHỈ 1: NHỮNG NGƯỜI SỐNG SÓT


Dấu chỉ chắc chắn nhất cho chiền thắng tối hậu của chúng ta là sự can dự mạnh mẽ và gia tăng đều đặn của giới trẻ vào tất cả mọi khía cạnh của cuộc chiến nhằm chấm dứt nạn nạo phá thai. Và nếu bạn hỏi họ vì sao họ gia nhập cuộc chiền đấu của chúng tôi, thì họ sẽ nói với các bạn: “Đó đã có thể là tôi”. Bằng việc nói thẳng cho những trẻ chưa sinh, giới trẻ ở Mỹ cũng nói cho chính họ. Đây là một sự ý thức và một động năng mà những người chủ trương nạo phá thai không thể làm gì để ngăn chận được. Và kết quả là các phong trào vì sự sống nhận được một sức mạnh mới và một động năng mới mỗi ngày từ những người sống sót nầy.


DẤU CHỈ 2: NHỮNG DÒNG CHẢY CÁC CUỘC TRỞ LẠI


Một lý do nữa để tin tưởng,ấy là chỉ cần nhìn vào dòng thác người trở lại. Trong chiều hướng nào vậy? Xin thưa là từ ủng hộ nạo phá thai sang bảo vệ sự sống. Chẳng hạn,có một tổ chức quốc tế của các nhà cung cấp nạo phá thai cũ có tên là Hội Các Sĩ Quan Đại Đội. Những người đàn ông và đàn bà nầy – tôi có đặc ân làm công tác chăm sóc họ – đã từng là bác sĩ, y tá, kỹ thuật viên,bảo vệ an ninh và nhiều vai trò khác để vận hành những công việc nạo phá thai. Nay họ đã ăn năn sám hối về sự giết chóc của họ và trở thành bảo vệ sự sống. Một số trong họ – như bác sĩ Bernard Nathanson và Norma McCorvey – có những lời chứng nổi tiếng. Nhưng đa số trong họ cố gắng có được cuộc sống bình thường trong sự kín đáo của các cộng đồng riêng họ. Tuy nhiên có khi nào bạn từng nghe về một tổ chức các giám đốc trung tâm thai nghén lại sám hối vì cứu được những trẻ sơ sinh và nay thành ủng hộ nạo phá thai không? Điều nầy không xảy ra. Với một biệt lệ đáng kể về các chinh trị gia – những kẻ nổi tiếng vì đã từ bỏ các nguyên tắc của họ trong việc đổi lấy những phiếu bầu hoặc lời ca ngợi từ những phương tiện truyền thông ưu tú – giòng chảy các cuộc trở lại theo một hướng duy nhất… và đó là từ sự chết sang sự sống.


DẤU CHỈ 3: TÔI HỐI HẬN VỀ VIỆC TÔI PHÁ THAI


Một dấu chỉ tiến bộ rõ rệt khác là làn sóng các người nữ và nam trên khắp thế giới nói lên sự hối hận của họ vì đã giết con cái bằng nạo phá thai. “Chiến dịch Im Lặng Không Còn Ý Thức” – một dự án chung giữa Các LM Vì Sự Sống và Các tín đồ Anh giáo vì Sự Sống – cung cấp cho những người nsm và nữ nầy một cơ hội để chia sẻ chứng từ của hị trong những buổi tụ họp công cộng,trước các phương tiện truyền thông, ở các bục giảng và trong những buổi điều trần lập pháp. Như Jennifer O’Neill,phát ngôn viên của chiến dịch nầy nói: “Kinh nghiệm chiến thắng lý thuyết”, Những người nam và nữ nầy là những chứng từ sống rằng nạo phá thai không có kết quả. Thay vì “giải quyết” một vấn nạn, nạo phá thai tạo nên nhiều vấn nạn của riêng nó. Tốt hơn hết, không có điều gì mà những người chủ trương nạo phá thai có thể làm để ngăn chận làn sóng nầy. Thực tế,nó đặt chúng vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Từ nhiều thập niên đến nay, họ vẫn nói: “Hãy nghe những tiếng nói của nữ giới”. Nay nếu họ thực hành những gì họ rao giảng, họ sẽ nghe những tiếng nói của các chị em ấy bác bỏ lời dối trá về nạo phá thai.


DẤU CHỈ 4: ÍT BÁC SĨ… ÍT MÁY NGHIỀN (**)


Hơn một nửa những bệnh viện nạo phá thai đứng tự do của Mỹ đã đóng cửa từ năm 1993… từ hơn 2000 vào thời ấy còn lại khoảng 740 ngày nay. Điều ấy là vì,bất kể bao nhiêu tiền, sức mạnh chính trị và tiếp cận các phương tiện truyền thông,phong trào nạo phá thai đã phát triển, chúng không thành công trong việc lấy đi vết nhơ không thể gột sạch nầy gắn liền với nạo phá thai. Thực tế, nỗi sợ hãi lớn nhất của kỹ nghệ nạo phá thai không phải là vụ Roe chống lại Wade sẽ bị lật ngược. Đúng hơn, đó là nạo phá thai sẽ vẫn hợp pháp nhưng sẽ không có bác sĩ nào để thực hiện nó. Khoảng 86% các Quận ở Mỹ hiện không có được một người phá thai. Ngày càng ít bác sĩ – ngay cả khi họ tự coi mình là “thuận chọn lựa” [ủng hộ phá thai.ND] – muốn thực hiện quy trình nầy. Họ coi những người phá thai là những người tồi của ngành y và họ có lý. Bác sĩ phá thai Herbert Hodes đã tóm tắt điều đó trong tạp chí Glamour số tháng 9/1991 khi ông nói: Chính là thế nào mà những người chống nạo phá thai sẽ thắng. Họ sẽ thắng bằng sự tiêu hao, vì ngày càng ít bác sĩ thực hiện các vụ nạo phá thai.”

DẤU CHỈ 5: BẰNG CHỨNG PHÁP LÝ TĂNG


Trong lịch sử Hiến pháp, quyền của các tổ chức vốn bị đàn áp – như là những người Mỹ gốc Phi Châu, trẻ em,phụ nữ và công nhân – cuối cùng đã được minh oan. Khi các toà án đã nghe nhiều bằng chứng hơn về tổn hại do các tổ chức nầy đã làm, họ đã lật ngược phán quyết của những toà án trước. Từ sự nô lệ đến các quyền của công nhân, tới sự phân biệt với luật lao động trẻ em, cuối cùng các toà án đã làm nó đúng. Nay đã đến lúc đối với sự nhìn nhận “thời khắc phôi nhi” mà các quyền trong Hiến Pháp áp dụng đối với trẻ chưa sinh. Trong nhiều vụ kiện, bằng chứng nhân tính của trẻ chưa sinh,cũng như bằng chứng về tổn hại mà nạo phá thai làm với các phụ nữ,được giới thiệu trong toà án. Và ngay cả nếu một phán quyết đặc biệt của toà không thuận lợi, thì bằng chứng nầy vốn được đưa vào hồ sơ, cũng trở thành tài liệu mà những vụ kiện tương lai có thể viện dẫn. Vì bằng chứng khoa học tiếp tục tăng,một ngày không xa,các toà án sẽ buộc phải nhìn nhận tư cách [là] con người của trẻ chưa sinh và thống nhất với những quyền và sự bảo vệ của Hiến Pháp Hoa Kỳ của chúng ta.

DẤU CHỈ 7: NGHIÊN CỨU NẠO PHÁ THAI

Một lý do nữa để tin tưởng là con số ngày càng cao ngút bằng chứng y học, tâm lý và xã hội rằng nạo phá thai làm hại nữ giới,nam giới và gia đình. Các trang mạng như www.AfterAbortion.org cung cấp một khởi điểm tuyệt vời cho việc điều tra con số tăng cao ngút các bằng chứng. Cái nói lên hùng hồn nhất ấy là sự việc ngay cả những nhà nghiên cứu vốn tự coi mình là ủng hộ nạo phá thai (pro-choice) đang đi đến kết luận nầy…và phổ biến nghiên cứu của họ bất chấp những phản đối và chỉ trích mạnh mẽ của kỹ nghệ nạo phá thai. Khối lượng bằng chứng gia tăng nầy là một trong những cách mà nạo phá thai cuối cùng sẽ tự huỷ diệt. Nạo phá thai càng tiếp tục,thì nó càng lộ ra là một kẻ thù của gia đình nhân loại.


DẤU CHỈ 7: KHÔNG CÒN NHỮNG LẬP LUẬN NÀO NỮA


Một dấu chỉ chiến thắng khác nữa là đối phương đã cạn kiệt lý lẽ. Trong những năm dẫn tới vụ Roe chống Wade, những kẻ chủ trương nạo phá thai bảo đảm với mọi người rằng nạo phá thai hợp pháp sẽ giảm việc lạm dụng trẻ em, củng cố đời sống gia đình và cải thiện xã hội. Nhưng tất cả mọi bằng chứng cho thấy rằng sau ba thập niên nạo phá thai hợp pháp, tất cả những vấn nạn nầy ngày càng xấu đi. Hơn nữa,tất cả những lý lẽ từ y khoa, khoa học, tâm lý học, xã hội học, luật pháp, đạo đức học và tôn giáo đều ủng hộ quan điểm bảo vệ sự sống. Cuối cùng, những người ủng hộ vẫn thường gọi nạo phá thai là một “quyết định giữa một người nữ và bác sĩ của người đó”. Nay họ cho đó là một quyết định “giữa một phụ nữ và Thiên Chúa của người đó”. Khi những kẻ ủng hộ nạo phá thai cạn kiệt lý lẽ, thì họ khẩn khoản kêu cầu Thiên Chúa để chấm dứt cuộc tranh luận. Chúng tôi, những người trong phong trào bảo vệ sự sống,cũng kêu cầu Thiên Chúa, không phải để làm vật thay thế cho các lập luận khác, nhưng đúng hơn là nền tảng của các lý lẽ.


DẤU CHỈ 8: NGAY CẢ TRONG CHÍNH TRỊ…


Chúng ta còn nhìn thấy bằng chứng sự tiến bộ bảo vệ sự sống cả trong vũ đài chính trị. Các cử tri mà nạo phá thai có tầm quan trọng trong quyết định của họ, bỏ phiếu cho những ứng cử viên bảo vệ sự sống với chênh lệch hai trên một. Ngay cuộc bầu cử năm 2006 cũng cho thấy điều đó. Trong một bầu khí chính trị thù nghịch với nhiều ứng cử viên bảo vệ sự sống,các số liệu cho thấy rằng đó là vì những lý do khác hơn là vì nạo phá thai. Khoảng 36% cử tri cho biết rằng nạo phá thai ảnh hưởng việc bỏ phiếu của họ. Bên trong nhóm đó,23% bỏ phiếu cho bảo vệ sự sống và chỉ 13% cho ủng hộ nạo phá thai. Cách cư xử của các cử tri về vấn đề nạo phá thai tiếp tục là một lợi thế cho phía bảo vệ sự sống của chúng ta khi các điều tra cho thấy rằng cường độ động năng với phía bảo vệ sự sống mạnh mẽ hơn. Những cuộc thăm dò dư luận cũng cho thấy rằng các cử tri mới hơn,trẻ hơn cũng bảo vệ sự sống hơn và muốn nhìn thấy nạo phá thai bị khai trừ hoặc bị hạn chế cao hơn.


DẤU CHỈ 9: RẤT NHIỂU PHÁP CHẾ


Nhiều năm gần đây nhất đã nhìn thấy tiến bộ về lập pháp chưa từng có nhân danh trẻ chưa sinh. Hãy nhìn bằng chứng nầy. Xét trên bình diện liên bang, lần đầu tiên một phương thức nạo phá thai – cái được gọi là “phá thai sinh từng phần” – bị tuyên bố là bất hợp pháp. “Đạo luật Bảo vệ Cá hài nhi sinh ra còn sống” bảo vệ trẻ chưa sinh khỏi bị giết sau một cuộc phá thai thất bại. “Đạo luật trẻ chưa sinh nạn nhân của bạo lực” bảo vệ trẻ chưa sinh khỏi những hành vi bạo lực khác ngoài nạo phá thai. Và ở cấp tiểu bang, các luật đã có đã giúp hạn chế những con số nạo phá thai. Những luật nầy bao gồm các luật về cha mẹ và luật quy định bệnh vện nạo phá thai. Các nhà làm luật của chúng ta đang có những tiến bộ!


DẤU CHỈ 10: THAM NHŨNG BỊ HỞ RA


Lý do chủ chốt chúng ta đang thắng,ấy là nạo phá thai tự huỷ diệt mình. Những hoạt động xấu xa thầm kín của nạo phá thai đang bị phơi bày cho mọi người xem… và do ngày càng nhiều tội ác trở nên tỏ tường, phong trào nạo phá thai đánh mất người ủng hộ. Những tội ác nầy bao gồm những sơ suất y khoa, lạm dụng tình dục, tổn thương và cái chết xảy ra như cơm bữa trong những bệnh viện nạo phá thai được gọi là “an toàn và hợp pháp, những bác sĩ không tiệt trùng các dụng cụ, các kỹ thuật viên gây mê không được huấn luyện bài bản, ”những vụ nạo phá thai” trên những phụ nữ không có thai, lam giả bệnh án và còn nhiều thứ khác. Kỹ nghệ phá thai tạo nên một nơi ẩn náu an toàn cho những tay lợi dụng tình dục (chi tiết xin xem ở: www.ChildPredator.com). Ngoài chuyện lạm dụng bệnh nhân, các bệnh viện nạo phá thai còn hùng hổ với những vi phạm các tiêu chuẩn OSHA (Occupational Safety and Health Administration) và những luật về tuyển nhân công khác. Một danh sác dài các chi tiêt có thể xem ở www.ClinucWorkee.com. Điều tất cả những việc nầy muốn nói,ấy là kỹ nghệ nạo phá thai hết sức dễ bị tổn thương với công luận và nạo phá thai hợp pháp chẳng có gì để làm trực tiếp với tính hợp pháp của những vụ nạo phá thai. Các bênh viện có thể bị đóng cửa – và đang đóng – và những người chuyên phá thai đang bị bắt giam vì những lý do khôn có gì liên quan với những gì người ra nghĩ về nạo phá thai… nhưng đúng hơn vì những lý do liên quan tới những sơ sót trong lúc thực hiện, những lạm dụng và những hoạt động bất hớp pháp khác.

Lý do căn bản vì sao chúng ta đang thắng cuộc chiến nhằm kết thúc nạo phá thai là vì chúng ta đã thắng! Có một người trong chúng ta nắm giữ những chìa khoá của cái chết và của địa ngục. Chúa Giêsu Ki-tô trổi dậy từ cõi chết! Mặc dù bị cho là bị những tác nhân của tử thần lấn át, Người đã giẫm nát sự chết bằng cái chết của Người. Kết quả là sự chết đã bị lột sạch mọi quyền hành của nó. “Hỡi sự chết, nọc độc của ngươi ở đâu? Vì sự Phục Sinh của Chúa Ki-tô, sự chết không còn lời quyết định trong lịch sử nhân loại nữa. Số phận cuối cùng của chúng ta là thiên đàng chứ không phải mộ địa.


Điều nầy muốn nói lên rằng quyền lực của nạo phá thai – nó lấy đi sự sống hơn bất kỳ sự gì khác – cũng đã bị đập tan. Phong trào bảo vệ sự sống của chúng ta không chỉ đơn thuần làm việc vì chiến thắng. Chúng ta lảm việc từ chiến thắng! Chiến thắng là điểm xuất phát của chúng ta. Chúng ta hân hoan tuyên bố cho cả thế giới biết rằng Chúa Ki-tô đã Sống Lại và vì lý do nầy,chúng ta phải chọn sự sống. Sau đó chúng ta làm việc để áp dụng chiến thắng ấy cho tất cả mọi lãnh vực xã hội.

LifeNews.com 21/11/2012

(*) LM Frank Pavone là giám đốc toàn quốc của “Linh Mục Bảo Vệ Sự Sống”

(**) “Abortion mill” (máy nghiền phá thai) là một từ chống nạo phá thai được dùng để mô tả một bệnh viện nạo phá thai.

Nguồn: xuanbichvietnam

Câu chuyện Bảo Vệ... Sự Chết ở Việt Nam

Bài viết này xin dành cho các chiến sĩ BVSS.
Xin được một chút suy tư, một chút nhìn lại.

Có câu chuyện thế này: ông Trùm trong một Giáo Xứ nọ khi dự một buổi thuyết trình của một Nhóm BVSS, thấy những hình ảnh phá thai kinh hoàng, được nghe về những con số ngất ngư và tác hại của tội ác nạo phá thai, ông bèn hạ quyết tâm sẽ trở thành chiến sĩ BVSS. Ai ngờ, không lâu sau đó, con gái nhà ông… có bầu. Thế là ông khẳng khái ra lệnh không được phá thai ! Quyết định này của ông làm cả nhà thở phào nhẹ nhõm, vì họ vốn dĩ biết ông là một người đầy tính khí gia trưởng, độc đoán.

Mấy tháng trôi qua yên lành… Nhưng cái thai còn nhỏ thì không sao, chưa mấy người biết chuyện, nhưng càng ngày, cái thai càng lớn, không những thế, con gái ông vốn không tế nhị, cứ vác cái bụng to tơn tơn ra vào đầu làng cuối ngõ, chẳng kiêng dè chi cả. Bà con làng xóm xầm xì láo nháo lao xao cả lên, thế là ông bắt đầu lung lay. Rồi ông bực bội, hễ nhìn thấy con gái là gai mắt. Sự bực tức cứ dồn nén dần, cho đến hôm nhà trai chính thức từ chối trách nhiệm với cái thai trong bụng con gái ông, ông điên tiết, quát lớn: “Đã thế thì phá ngay cái mầm phản trắc khốn nạn ấy ngay cho tao. Tội lỗi bao nhiêu… tao chịu sất !”

Ôi thế là ông đã bảo vệ… sự chết mất rồi ! May mắn là sau lần đó, con gái ông đã được đưa đi lánh nạn ở chỗ khác và sinh một em bé kháu khỉnh.

Thế mới biết, muốn Bảo Vệ Sự Sống cũng thật khó khăn, chỉ cần một chút nông nổi, là ta quay súng tự bắn vào mình. Được biết, vừa mới đây thôi, ngày 11.1.2013, hai người phụ nữ đứng trước tòa án Allabama để bảo vệ… sự chết của chính con họ. Nhưng tòa án Alabama đã bác bỏ và công nhận thai nhi là một con người với quyền bất khả xâm phạm, quyền được sống và được bình đẳng, kể cả quyền được bảo vệ trước những nguy cơ từ hóa chất độc hại. Điều này nhiều khả năng sẽ là một bước tiến triển vĩ đại cho vấn đề Bảo Vệ Sự Sống các thai nhi trước nguy cơ bị giết hại bởi những người phụ nữ lầm lạc để bị cuốn theo tư tưởng đòi tự do, đòi bình đẳng trước sinh mạng của chính con cái họ như tổng thống Obama đã chủ trương.

Tuy nhiên từ việc một tòa án của một bang trong nước Mỹ công nhận thai nhi là một con người đến kết quả xóa sạch tội ác nạo phá thai sẽ là một con đường dài hiểm hóc. Đặc biệt là đối với các quốc gia ảnh hưởng bởi chế độ vô thần ngự trị như Việt Nam. Từ tòa án, giáo dục, y tế, cơ quan hành pháp, lập pháp được hướng dẫn bởi một chủ nghĩa vô thần thì mơ về một Alabama là điều không tưởng.

Do vậy, trong trận chiến giữa Sự Sống và Sự Chết đòi hỏi sức mạnh của truyền thông. Giải quyết các hậu quả sau nạo phá thai dẫu sao cũng chỉ là giải pháp tình thế, bắt buộc để các thai nhi xấu số được hưởng một chút tình ấm áp đồng loại. Hàng chục triệu sinh linh trên địa cầu này bị giết hại mỗi năm, điều ấy có ý nghĩa gì khi chúng ta cứ lo sợ rằng mọi sự sẽ phải diệt vong khi chiến tranh thế giới thứ ba nổ ra. Chẳng phải là chiến tranh thế giới đã và đang nổ ra giữa con người đã được sinh ra và con người chưa kịp sinh ra hay sao, tàn sát kiểu tận diệt như thế chẳng phải là con người đang tự xô nhau đến chỗ diệt vong ư ?

Với thời điểm hiện nay, chỉ là gióng lên tiếng chuông báo động hay cảnh tỉnh có lẽ là điều đã khá muộn màng, sự cần kíp là tiếng chuông ấy phải chỉ thẳng ra sự thật, chỉ thẳng nguyên nhân, không né tránh, không sợ hãi. Có thế mới triệt tiêu mầm mống của tội ác này, ngày nào con người còn lẩn tránh trong sợ hãi, ngày ấy càng làm cho cái chết đến gần hơn, đặc biệt là tại các quốc gia không có tự do ngôn luận, không có tự do tín ngưỡng và không có nhân quyền.

Nhưng nguyên do từ đâu mà chúng ta phải sợ hãi, phải né tránh sự thật ? Mà chuyện né tránh ấy chẳng phải chỉ gặp ở các cán bộ công chức sợ mất chức cúp lương, ở những người đã từng phạm tội ác nạo phá thai mà ngay cả nơi một số chức sắc tôn giáo là những người có trách nhiệm hướng dẫn phần hồn, hướng dẫn tinh thần ! Thật là vô trách nhiệm, nếu chưa muốn nói là… hèn nhát !

- Phải chăng đụng chạm đến chính sách Kế Hoạch Hóa Gia Đình chẳng hạn, người ta bị ảnh hưởng về thu nhập chăng ? Nếu so với cái chết thì mức thu nhập tiền bạc vật chất nào có nghĩa lý gì !

- Phải chăng từ sai lầm của nhiều định kiến giáo dục, nếu cứ để cho hệ tư tưởng vô thần dẫn dắt tư tưởng của nhiều thế hệ, nhồi sọ tuyên truyền một cách có hệ thống, khiến người ta nhìn nhận sai về thai nhi, về quyền sống công bằng, thì bao giờ người ta mới được mở mang trí tuệ, có thể chiêm ngưỡng được hết vẻ đẹp tạo hóa đã phú ban cho Sự Sống ?

- Phải chăng cứ để hệ thống y học thay vì cứu người lại thỏa sức giết người, phục vụ cho mục đích thu vén tiền bạc, mà lại rêu rao là phục vụ cho lợi ích kinh tế quốc gia, làm cho xã hội được phát triển ổn định. Nếu thế thì bao giờ chúng ta mới có thể yên tâm đặt tính mạng mình vào tay các “lương y như từ mẫu” ?

Ai đó còn đòi hỏi phải kiểm chứng bằng các hậu quả mới tin nữa sao ? Đầy ra đó những hình ảnh bạo lực trong xã hội chúng ta những năm gần đây.

Ngay sáng nay thôi, một người cha nhẫn tâm cầm dao tước đoạt sinh mạng con ruột chỉ vì đi học về nó không chào hỏi… Ngay trưa nay thôi, một người cha đâm nhiều nhát vào thân thể đứa con mới 4 tuổi đầu do nó phá giấc của mình… Các vụ giết người bây giờ đều bắt đầu từ những lý do rất nhỏ nhặt vớ vẩn. Thử hỏi, một xã hội mà trong đó người cha, người mẹ dám thản nhiên giết chết con mình như thế thì còn có việc gì trên thế gian này mà họ chẳng dám nhúng tay vào. Hối lộ, tham nhũng, bất công, cướp bóc, lừa đảo, giả dối, bạo quyền… tất tần tật cũng là một lý do. Người thân yêu ruột thịt còn chẳng đoái hoài thì làm sao biết yêu thương đồng loại ?

Mà nói thẳng nói thật chính là một trong những tác vụ cần thiết của việc truyền thông BVSS

Đã từng được tham dự nhiều buổi truyền thông BVSS từ Nam chí Bắc, đã từng đến thăm những Nghĩa Trang Anh Hài khắp nơi, từng ưu tư và trò chuyện với cả nạn nhân và ân nhân của họ là những người BVSS, tôi xin bộc bạch một vài suy tư và cảm nhận này, chủ yếu về vấn đề truyền thông:

1. Nhiều khi phải chứng kiến cảnh các “chiến sĩ” BVSS chạy dài hay thua trận sớm chỉ vì “ông cha xứ nơi ấy không hợp tác”, họ không có ý định quay lại nữa, thế là đành bỏ mặc một mảnh đất màu mỡ cho tội ác nạo phá thai tung hoành.

2. Nhiều khi chỉ được phép truyền thông nhưng có điều kiện, “chiến sĩ” BVSS được khuến cáo không đả động đến những điều “nhạy cảm” với Nhà Nước. Ôi thế là truyền thông không còn tác dụng sâu xa nữa, chỉ truyền thông được phần ngọn mà không đạt tới gốc rễ của thảm họa nạo phá thai, xô ra hết những hình ảnh các thai nhi bị giết hại để làm cho người ta thấy thế mà khiếp hãi nhất thời vậy thôi, rồi cuối cùng sẽ cho ra những con người như ông trùm kể trên.

3. Nhiều khi trong chương trình truyền thông BVSS, không thấy có lời mời gọi người nghe hãy trở thành những “chiến sĩ” BVSS tích cực ngay từ trong bản thân và gia đình, từ đó mới có được phương thuốc tiêu diệt tận gốc vấn nạn nạo phá thai.

4. Và nhiều khi không thấy truyền thông BVSS của người Công Giáo trình bày được căn nguyên sinh tử của vấn đề nằm ở chỗ người ta có thật sự xác tín vào Thiên Chúa hay không, sống Đạo chứ không chỉ giữ Đạo, lắng nghe tiếng lương tâm chứ không để cho sĩ diện danh dự hão lấn lướt.

Bảo Vệ Sự Sống hay Bảo Vệ Sự Chết, thiết nghĩ, tùy thuộc vào thái độ, cách nhìn nhận vấn đề, sự dũng cảm và cách hành động theo mách bảo của lương tâm và Tin Mừng của con người hôm nay.


Đaminh PHAN VĂN DŨNG, 24.1.2013

Theo bvss.org

Humanae Vitae

Thông Ðiệp Sự Sống Con Người (Humanae Vitae) 

của Ðức Thánh Cha Phaolô VI 

25 Tháng 7 Năm 1968


Thân gửi Chư Huynh đáng kính, các Vị Thượng Phụ, 

các Vị Tổng Giám Mục, Giám Mục và các vị Giáo Quyền 

tại những nơi giao hảo và hiệp thông với Tòa Thánh, 

các Tu Sĩ, các Giáo Hữu thuộc thế giới Công Giáo 

và toàn thể những Người Thiện Tâm Thiện Chí 

Kính chào chư huynh khả kính và các con thân mến, 

xin gửi đến tất cả phép lành Tòa thánh. 



Sự lưu truyền đời sống

1. Nhiệm vụ lưu truyền đời sống là một nhiệm vụ trọng đại của đôi phối ngẫu, một nhiệm vụ khiến họ trở nên những người tự động tham dự vào trách nhiệm tạo dựng của Ðấng Tạo Hóa, một nhiệm vụ luôn luôn mang lại cho họ nhiều nguồn an ủi, vui sướng lớn lao, song đồng thời thỉnh thoảng cũng gây cho họ không biết bao nhiêu khó khăn, cực lòng.

Trong mọi thời đại, việc thi hành nhiệm vụ lưu truyền đời sống thường đặt các đôi phối ngẫu trước nhiều vấn đề thắc mắc, khó giải quyết; và đặc biệt những tiến hóa của xã hội hiện đại đã gây rất nhiều biến chuyển, và tạo ra nhiều vấn đề mới, Giáo hội không thể không lưu tâm đến những vấn đề này, vì đây là một lãnh vực có liên hệ mật thiết với đời sống và hạnh phúc con người. 





I. Những Khía Cạnh Mới Của Vấn Ðề 
Về Quyền Hạn Của Giáo Quyền 

Những dữ kiện mới

2. Những biến chuyển mới xảy ra hết sức rõ ràng, quan trọng và thuộc nhiều lãnh vực. Biến chuyển đầu tiên là việc dân số trên thế giới gia tăng mau lẹ. Nhiều người tỏ ý lo ngại: với nhịp độ này, không mấy lúc nữa, các tài nguyên thực phẩm sẽ không đủ cung ứng cho nhu cầu của con người, vì nhịp độ sản xuất chậm hơn. Viễn tượng đó đã tạo ra một tâm trạng khắc khoải, khiến nhiều gia đình, nhiều dân tộc chậm tiến phải lo âu, và các nhà cầm quyền rất dễ ngã theo chủ trương làm mạnh để chặn đứng nguy cơ này. Ngoài ra, các điều kiện làm việc, tình trạng nhà ở, và các nhu cầu đòi hỏi mới của nhân loại trong lãnh vực kinh tế, giáo dục đã gây rất nhiều khó khăn trở ngại cho việc dưỡng dục con cái một cách đầy đủ, nếu chúng đông quá.

Biến chuyển thứ hai được phát hiện trong vai trò người đàn bà: giá trị cũng như vị trí của họ trong xã hội hiện đang được người ta thảo luận, cân nhắc, xét lại. Sự biến chuyển còn thấy ngay vấn đề tình yêu hôn nhân, trong ý nghĩa của các tác động hôn nhân xét theo khía cạnh của tình yêu.

Cuối cùng, biến chuyển quan trọng nhất hiện nay trên thế giới là việc con người đã tiến những bước khổng lồ trong địa hạt chinh phục và tổ chức lại các lực lượng thiên nhiên, và vì thế, họ cũng muốn áp dụng khả năng chinh phục ấy đối với chính bản thân (xét trong khía cạnh toàn bộ) của họ: thân xác, đời sống vật lý, đời sống xã hội và ngay cả các định luật vốn dùng làm tiêu chuẩn điều hành trong việc lưu truyền đời sống, họ cũng muốn sửa đổi thay thế.

3. Lẽ tất nhiên tình trạng trên đây đã phát sinh nhiều vấn đề mới. Người ta nghĩ rằng: Khi các điều kiện sinh hoạt đã thay đổi, khi ý niệm về các hành vi hôn nhân đã xoay chiều để tạo sự hòa hợp và trung thành giữa đôi vợ chồng, cố nhiên không thể không lưu tâm xét lại các định luật luân lý có liên hệ đến hôn nhân, nhất là khi người ta nhận thấy, muốn tuân giữ các định luật trên, nhiều khi phải hy sinh, phải có một chí can đảm phi thường.

Ðem áp dụng nguyên tắc "toàn bộ" về vấn đề này, nhiều người tự hỏi: liệu có thể, với ý thức và mục đích hạn chế bớt việc sinh sản và điều hòa nó một cách khoa học, người ta có thể biến chế việc vô hiệu hóa năng lực sinh sản thành một hành vi hợp pháp và khôn ngoan không? Nói cách khác, liệu người ta có quyền chấp nhận quan điểm này: cứu cánh, mục đích của việc sinh sản không phải chỉ bao gồm mỗi hành vi, mà trái lại, bao gồm toàn thể đời sống hôn nhân không?

Người ta còn đi xa hơn nữa và tự hỏi rằng: với tinh thần trách nhiệm ngày một lớn của con người cận đại, liệu đã đến lúc nên cho phép họ căn cứ vào lý trí, ý muốn của mình để tự điều hòa lấy vấn đề sinh sản, hơn là cứ phó mặc cho các định luật sinh lý.


Quyền hạn của giáo quyền

4. Những vấn đề trên đây đòi hỏi Giáo hội phải suy nghĩ cân nhắc lại một cách kỹ càng các nguyên tắc của học thuyết luân lý liên quan đến hôn nhân: một học thuyết tuy căn cứ trên các định luật thiên nhiên, song lại được Thiên Chúa mặc khải, soi sáng và phong phú hóa thêm.

Cố nhiên không người giáo hữu nào phủ nhận quyền hạn của Giáo hội trong việc giải thích luật, dầu luật ấy là luật luận lý tự nhiên. Quả vậy, như các vị tiền nhiệm của Ta đã nhiều lần tuyên bố (Ðức Piô IX trong Quipluribus, Ðức Piô XI trong Casti Connubii, Ðức Piô XII trong Magnificat Dominum, Ðức Gioan XXIII trong Mater et Magistra), khi Chúa Giêsu Kitô trao quyền Thiên Chúa của mình lại cho Thánh Phêrô và các Tông đồ, sai các Ngài đi khắp các nước truyền rao các giáo huấn của Người (Mt 28,18-19), Chúa đã đặt các Ngài làm người chính thức bảo vệ và giải thích toàn thể bộ luật lý, không phải chỉ lề luật Phúc âm, mà cả các lề luật tự nhiên nữa, vì lề luật tự nhiên biểu lộ thánh ý của Chúa, và vì muốn được cứu rỗi, không thể không tuân hành luật lệ ấy được (Mt 7,21).

Với sứ mạng trên, Giáo hội thường xuyên ban hành một nền giáo huấn mạch lạc liên quan đến bản chất của hôn nhân cũng như về phương pháp sử dụng một cách đứng đắn quyền lợi của hôn nhân, và về nhiệm vụ của các đôi vợ chồng. Ðặc biệt, trong thế kỷ hiện đại, các giáo huấn thuộc loại này được ban hành và phổ biến nhiều hơn bao giờ hết (Catechismus Concilii Tridentini, Divini Illius Magistri của Ðức Piô XI, các diễn văn của Ðức Piô XII, Mater et Magistra của Ðức Gioan XXIII...)


Những nghiên cứu đặc biệt

5. Ý thức được sứ mạng Chúa giao phó, ta đã xác nhận và mở rộng Ủy ban nghiên cứu mà vị tiền nhiệm của Ta, Ðức Gioan XXIII, đã thành lập từ tháng 3 năm 1963. Ủy ban này gồm nhiều chuyên viên thuộc các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, và cả một số người có đôi bạn, với các ý kiến liên quan đến các vấn đề mới thuộc lãnh vực "đời sống hôn phối", đặc biệt lưu ý vấn đề điều hòa sinh sản, để giáo quyền đầy đủ yếu tố, tài liệu cần thiết hầu trả lời thích đáng cho giáo dân cũng như cho dư luận thắc mắc của nhân loại (Diễn văn của Ðức Phaolô VI ngày 23/6/1964, 24/3/1965, 29/10/1966).

Nhờ công việc nghiên cứu của Ủy ban nói trên, nhờ các ý kiến phán đoán, khuyến cáo của các chư huynh trong hàng Giám mục, hoặc tự ý, hoặc theo lời Ta yêu cầu đã gom góp thêm vào, Ta thấy có thể đánh giá, ước lượng mọi khía cạnh của vấn đề phức tạp này. Vì thế, Ta hân hoan và nhiệt thành gửi lời cám ơn tất cả các vị.


Câu trả lời của giáo quyền


6. Tuy nhiên, một điều cần phải nói ngay là các kết luận của Ủy ban trên đã đưa ra không thể coi như có tính cách quyết định và Ta nhận thấy có nhiệm vụ phải tự cứu xét thêm, lý do vì tính cách quan trọng của vấn đề cũng có, mà cũng vì các nhân viên trong Ủy ban không hoàn toàn đồng ý về các định luật luân lý sẽ đem ban hành, và chấp nhận là có một số tiêu chuẩn của các biện pháp đề nghị đã đối nghịch lại học thuyết luân lý về hôn nhân do giáo quyền chủ trương một cách kiên quyết từ trước đến nay.

Vì những lý do đó, sau khi đích thân xem xét các tài liệu đệ trình, sau khi cân nhắc cẩn thận, sau khi cầu xin Thiên Chúa ban ơn soi sáng, Ta sẽ nhân danh Chúa Kitô ủy thác, trả lời những vấn đề thắc mắc được nêu ra trong lãnh vực hôn nhân.



II. Các Nguyên Tắc Giáo Lý 

Một ý thức trọn vẹn về con người

7. Cũng như tất cả các vấn đề liên quan đến đời sống con người, vấn đề sinh sản cần được ý thức và quan niệm không phải dưới một vài khía cạnh riêng biệt - như khía cạnh sinh lý, dân số và xã hội mà - phải lưu tâm toàn thể con người, đến ơn gọi thiên nhiên cũng như siêu nhiên, trần tục cũng như muôn đời của họ. Ngoài ra vì nhận thấy có nhiều người có khuynh hướng tìm cách chứng minh hợp pháp hóa các phương pháp nhân tạo để kiểm soát việc sinh sản bằng cách căn cứ vào các nhu cầu của tình yêu trong hôn nhân, và "trách vụ trở thành cha mẹ" của đôi vợ chồng, nên Ta sẽ minh xác quan niệm chính thống về hai thực tại quan trọng của đời sống trên đây. Lẽ tất nhiên trong lãnh vực này, Ta căn cứ trên những điều Công đồng Vatican II đã trình bày và quyết định trong Hiến chế mục vụ "Vui Mừng Và Hy Vọng" (Gaudium et Spes).


Tình yêu trong hôn nhân

8. Bản chất thực tiễn và sự cao quí của Tình yêu trong Hôn nhân được biểu lộ hoàn toàn khi người ta nhìn qua Nguồn gốc tối thượng của nó là Thiên Chúa Tình yêu (Ga 4,8), "là Cha toàn năng, nguồn mạch của mọi tình cha con, trên trời cũng như dưới đất" (Ep 3,15).

Chính vì thế nên hôn nhân không phải kết quả của ngẫu nhiên hay của các lực lượng tự nhiên, vô ý thức tạo thành. Trái lại, đó là một tổ chức khôn ngoan do Ðấng Tạo Hóa vì tình thương đã thực hiện nơi nhân loại. Ðôi vợ chồng cống hiến chính bản thân mình cho nhau, hòa đồng bản thể của đôi bên lại để hoàn thiện hóa cá nhân mình hầu cộng tác với Thiên Chúa trong việc lưu truyền sự sống và dưỡng dục các đời sống mới.

Hơn thế nữa, đối với những người đã chịu Phép Rửa tội. Hôn nhân còn mang sắc thái cao quý của Bí tích ơn nghĩa thánh, lý do vì hôn nhân tượng trưng sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Giáo hội.


Các đặc tính của tình yêu trong hôn nhân

9. Ðược ý thức như thế, Hôn nhân sẽ bật nổi sáng chói với những đặc tính, những đòi hỏi đặc biệt của tình yêu hôn phối. Do đó chúng ta cần phải có một ý niệm xác thực về vấn đề này.

Trước tiên đó là một thứ tình yêu hoàn toàn nhân nghĩa là vừa hữu hình, và vừa siêu hình. Ðây không phải chỉ là một việc di chuyển tình cảm và bản năng từ người này sang người kia, mà đó chính là một hành vi của lý trí và tự do, một hành vi cần được bảo vệ và gia tăng qua những vui buồn của đời sống thường nhật, để đôi vợ chồng trở nên một tâm hồn, tinh thần và cùng nhau đạt tới đỉnh hoàn thiện của nhân loại.

Ngoài ra đây còn là một thứ tình yêu trọn vẹn nghĩa là một hình thức đặc biệt của tình bạn cá nhân, nhờ đó hai vợ chồng cùng nhau chân thành yêu mến, chia sẻ mọi sự, không dấu diếm, không tính toán ích kỷ. Một người phối ngẫu yêu bạn mình không phải vì những cái bạn đã cho mình, mà chính vì bạn với niềm hân hoan vui sướng được lấy chính bản thân mình phong phú hóa cho bạn.

Ðây cũng là một thứ tình yêu chung thủy và dành riêng cho một người cho đến lúc chết, và đó chính là cảm nghĩ của đôi vợ chồng ngày hai người tự ý, tự nguyện hiến trọn thân mình cho nhau khi nói lên lời giao ước hôn nhân. Lòng chung thủy ấy tuy đôi khi khó thực hiện, song ai cũng công nhận là có thể giữ được, và lòng chung thủy ấy là một thái độ cao quí, đáng trọng. Kinh nghiệm hôn nhân qua bao thế kỷ, với những cử chỉ đáng phục của muôn vạn người chồng trong các thế hệ chứng tỏ rằng lòng chung thủy không những hợp với bản chất của hôn nhân mà còn là nguồn hạnh phúc sâu xa bền vững.

Cuối cùng đây là một tình yêu phong phú không hề tiêu hao trong việc truyền thông giữa hai vợ chồng, trái lại đủ sức tiếp tục bằng việc tạo những đời sống mới. "Hôn phối và tình yêu trong hôn nhân, tự bản chất nó, được hướng về việc sinh sản và nuôi dưỡng con cái. Trên thực tế, con cái là ân huệ tối thượng của hôn nhân và mưu ích rất nhiều cho chính cha mẹ chúng" (Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ "Vui Mừng Và Hy Vọng" - Gaudium et Spes, số 50).


Trách nhiệm trở thành cha mẹ

10. Vì lý do trên tình yêu trong hôn nhân đòi hỏi đôi vợ chồng phải ý thức sứ mạng "trách nhiệm trở thành cha mẹ" của mình, một trách nhiệm mà người hiện đại thường xuyên nhắc tới và hết thảy chúng ta cần phải thấu hiểu ý nghĩa xác thực của nó, trách nhiệm ấy cần được cân nhắc, thảo luận dưới nhiều khía cạnh khác biệt nhưng liên hệ với nhau.

Xét về phương diện sinh lý học, nhận "trách nhiệm trở thành cha mẹ" tức là thấu hiểu và tôn trọng các tiến trình hoạt động của sinh lý: trí thức giúp ta khám phá ra khả năng sinh sản, định luật luân lý nằm ngay trong bản chất con người (Summa Theologiae, I-II, q. 94, art. 2).

Xét về phương diện các khuynh hướng của bản năng về tình dục, trách nhiệm trở thành cha mẹ có nghĩa là phải dùng lý trí và lòng cương quyết để điều khiển chúng.

Xét về phương diện các điều kiện thể lý, kinh tế, tâm lý và xã hội, trách nhiệm trở thành cha mẹ có nghĩa là: biết cân nhắc suy nghĩ để rồi sẵn sàng làm cho gia đình mình tăng thêm nhân số, hoặc để rồi căn cứ vào những lý do xác đáng, và trong tinh thần tôn trọng lề luật luân lý quyết định tạm ngưng việc sinh sản trong một thời gian ngắn hay vô hạn định.

Ðặc biệt nhất là trách nhiệm trở thành cha mẹ bao hành sự tôn trọng trật tự luân lý do Thiên Chúa ấn định bằng cách biểu lộ một lương tâm ngay chính thẳng thắn. Vì thế việc đảm nhận trách nhiệm trở thành cha mẹ đòi hỏi đôi vợ chồng phải chu toàn nhiệm vụ đối với Thiên Chúa, với chính mình, với gia đình, xã hội trong tinh thần tôn trọng bậc thang chính thống của các giá trị. Chính vì thế nên trong lãnh vực lưu truyền sự sống, họ không có quyền tự do hành động theo sở thích, tự ý lựa chọn những phương pháp cho là chính đáng, trái lại, phải hướng hành động mình theo đúng thánh ý tạo dựng của Thiên Chúa, thánh ý đó được biểu hiện bằng chính bản chất và các hành vi của hôn nhân cũng như bằng các lời giáo huấn liên tục của Giáo hội (Hiến chế mục vụ "Vui Mừng Và Hy Vọng" - Gaudium et Spes, số 50 và 51).


Việc tôn trọng bản chất và cứu cánh của hành vi vợ chồng

11. Những hành vi của đôi vợ chồng dùng để kết hợp với nhau trong tình thân mật trong sạch hầu tạo thành và lưu truyền đời sống con người, là những "hành vi cao quí và chính đáng" (Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, số 49). Ðó là những hành vi hợp pháp, ngay cả trong trường hợp hai vợ chồng có thể đoán trước được là chúng sẽ không có hiệu năng sinh sản, vì những lý do ngoài ý muốn của mình: những hành vi ấy vẫn còn mục đích biểu lộ và làm cho sự liên kết của đôi vợ chồng thêm bền chặt. Trong thực tế, kinh nghiệm cho ta thấy: không phải mỗi hành vi, mỗi giao kết của hôn nhân đều tạo ra được một mầm sống mới. Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng đã thu xếp và thiết lập những định luật, những chu kỳ tự nhiên của mầm sống: Chính những chu kỳ ấy có sức giảm bớt số sinh. Tuy nhiên Giáo hội vẫn nhắc nhở loài người phải tuân hành các định luật tự nhiên và các lời giáo huấn của Giáo hội luôn luôn xác định rằng: Hành vi Hôn nhân phải hướng về việc lưu truyền đời sống (Thông điệp Casti Connubial của Ðức Piô XI).


Hai khía cạnh bất khả phân ly: Giao hợp và Sinh sản

12. Nền giáo huấn của giáo quyền căn cứ trên nguyên tắc này: Thiên Chúa đã quyết định liên kết (và con người không ai có quyền tự ý hủy bỏ) hai sự việc của Hôn nhân giao hợp và sinh sản.

Quả vậy, tự bản tính sâu xa của nó, hành vi hôn nhân liên kết chặt chẽ hai vợ chồng, giúp họ tạo thành những đời sống mới theo đúng những định luật cố hữu nằm ngay trong bản thể con người đàn ông và đàn bà. Chỉ khi nào bảo vệ nổi hai hình thức cốt yếu căn bản là giao hợp và sinh sản, hành vi hôn nhân mới giữ được trọn vẹn ý nghĩa của một thứ tình yêu chân thành giữa hai tạo vật và đạt được mục đích sứ mạng cao cả của loài người là trở thành cha mẹ. Ta thiết nghĩ rằng, những con người của thời đại này đủ điều kiện để nhận thấy rằng nguyên tắc căn bản trên đây vừa hợp lý vừa xứng nhân bản.


Trung thành với ý định của Thiên Chúa

13. Ðúng thế, người ta có thể ghi nhận rằng: bắt người phối ngẫu của mình phải chấp nhận một hành vi hôn nhân ngược với điều kiện thuận lợi, hoặc ý muốn của họ là một cử chỉ không xứng đáng với một thứ tình yêu chân thành và do đó, đi ngược hẳn lại với trật tự luân lý cần phải có trong mối liên quan giữa đôi vợ chồng. Ngoài ra, chỉ cần suy nghĩ kỹ, ta sẽ nhận thấy khi một hành vi hôn nhân giữa hai người phối ngẫu phá hoại khả năng lưu truyền đời sống, một khả năng mà Chúa tạo thành, đã liên kết hẳn với hành vi hôn nhân theo những định luật riêng, thì hành vi ấy trái ngược với ý định cấu tạo của hôn nhân cũng như với ý muốn của Ðấng tạo thành đời sống. Vì thế, nếu người ta sử dụng quyền năng của Thiên Chúa ban để phá hủy - dù chỉ phá hủy một phần - ý nghĩa và cứu cánh của nó, thì người ta quả đã đi ngược lại bản tính mối tương quan sâu xa giữa người đàn ông và đàn bà, và đồng thời chống lại chương trình và ý muốn của Thiên Chúa. Trái lại, nếu chúng ta sử dụng quyền năng của tình yêu hôn nhân trong tinh thần tôn trọng các định luật diễn biến của mầm sống, thì mặc nhiên chúng ta công nhận rằng mình không nắm quyền "sinh sát" đối với nguồn mạch của đời sống con người, mà ngược lại, chúng ta đã giúp thực hiện các ý định của Chúa tạo thành. Nếu con người không có toàn quyền, một thứ quyền vô hạn đối với thân xác của mình, thì lẽ tất nhiên, họ cũng không có quyền hạn vô song đối với các khả năng tạo thành mầm sống (hiểu theo đúng nghĩa của chúng), vì các khả năng ấy có mục đích cố hữu là sinh ra sự sống, sự sống do chính Thiên Chúa là nguyên lý. Ðức Gioan XXIII đã có dịp nhắc nhở điều này trong Thông điệp Mater et Magistra: "Ðời sống con người là siêu việt: ngay từ nguyên thủy đời sống ấy đã trực tiếp mang dấu ấn bàn tay sáng tạo của Thiên Chúa".


Những phương tiện bất hợp pháp dùng để điều hòa sinh sản

14. Căn cứ vào những điểm cốt yếu trong quan niệm của Công giáo cũng như của con người về vấn đề hôn nhân, Ta thấy cần phải tuyên bố một lần nữa là: không thể nào chấp nhận - lý do vì việc đó bất hợp pháp - việc điều hòa sinh sản bằng cách trực tiếp ngăn chặn sự diễn biến đã khởi sự một mầm sống, và nhất là việc cố ý phá thai dù với lý do y tế cũng vậy (Catechismus Romanus Concilii Tridentini. Thông điệp Casti Connubii của Ðức Piô XI, Gaudium et Spes của Công đồng Vatican II).

Ngoài ra, như giáo quyền đã nhiều lần tuyên bố, chúng ta không thể chấp nhận việc trực tiếp vô hiệu hóa khả năng sinh sản nơi người đàn ông hay đàn bà, dù là vĩnh viễn hay chỉ tạm thời trong một thời gian (Thông điệp Casti Connubii).

Chúng ta cũng không có quyền chấp nhận bất cứ một hành vi nào có mục đích hay dùng làm phương tiện để ngăn chặn việc sinh sản, hoặc trước khi hoặc đang khi làm hành vi hôn nhân, hoặc làm trở ngại việc diễn tiếp tự nhiên của hành vi ấy (Catechismus Romanus Concilii Tridentini, Thông điệp Casti Connubii, Mater et Magistra).

Chúng ta cũng không có quyền bào chữa cho những hành vi hôn nhân được cố tình vô hiệu quả, vì lẽ để tránh một tác hại nào đó hoặc với lý do các hành vi ấy đã là thành phần của những hành vi vốn có hiệu năng, xẩy ra trước hay sau, và vì thế cũng có giá trị như nhau. Trong thực tế, phải công nhận rằng: thỉnh thoảng người ta có quyền chấp nhận một tai hại nhỏ để tránh một tai hại lớn hoặc để thực hiện một việc tốt đẹp. (Diễn văn của Piô XII tại Hội nghị quốc gia các luật gia Công giáo Ý ngày 6/12/1953), nhưng không bao giờ ta được phép làm một việc ác để đạt tới một sự thiện (Rm 3,8) nghĩa là được phép tùy ý làm một việc tự bản tính nó vốn xấu hoặc một việc bất xứng với nhân cách, dầu là với mục đích bảo vệ hay tạo ra điều tốt cho cá nhân, gia đình hay xã hội. Chính vì lý do đó, ta không thể quan niệm rằng: một hành vi hôn nhân vốn dĩ xấu, vì được cố tình làm thành vô hiệu năng, lại có thể trở thành một hành vi tốt, dầu nó có phong phú hơn cho cả một cuộc đời của đôi bạn.


Tính chất hợp pháp của những phương tiện y khoa, y dược

15. Trái lại, Giáo hội không hề coi là trái phép việc sử dụng những phương tiện y khoa, y dược xét ra thực cần thiết để chữa các chứng bệnh của cơ thể, mặc dầu người ta đoán trước rằng việc sử dụng ấy sẽ cản trở sinh sản, miễn là việc cản trở ấy không phải do chính đương sự trực tiếp ưng muốn (Diễn văn của Ðức Piô XII đọc trước Hội nghị quốc gia các Bác sĩ chuyên môn về thận, ngày 8/10/1953).


Tính chất hợp pháp của việc lợi dụng các thời kỳ không đậu thai

16. Như Ta trình bày trong đoạn 3 trên đây, hiện nay người ta chống đối lại lời giáo huấn của Giáo hội về nền luân lý hôn nhân, chủ trương rằng con người có quyền dùng tri thức của mình để quản trị và điều khiển các năng lực nằm trong thiên nhiên vô tri để mưu ích cho toàn thể nhân loại. Người ta đặt câu hỏi: nếu có thể, trong một vài trường hợp, sử dụng phương pháp nhân tạo để kiểm soát việc sinh sản hầu đem lại hòa đồng êm ấm cho gia đình và giúp cho việc giáo dục con cái (đã sinh ra rồi) được dễ dàng tốt đẹp hơn, thì tại sao lại không sử dụng?

Ta cần phải trả lời một cách minh xác rằng: Giáo hội sẵn sàng chấp nhận, tán thưởng việc dùng tri thức trong một lãnh vực, mọi công tác Thiên Chúa cùng hoạt động với tạo vật tri thức, như Giáo hội khẳng định rằng: trong trường hợp này, phải tôn trọng nền trật tự được Thiên Chúa thiết lập.

Vì thế, nếu có những hoàn cảnh, những lý do thể lý, tâm lý, hoặc ngoại cảnh đòi hỏi vợ chồng phải hạn chế bớt việc sinh con, thì trong trường hợp đó, Giáo hội cho biết có thể căn cứ vào các chu kỳ tự nhiên, cố hữu của cơ năng sinh sản để làm hành vi hôn nhân trong những thời gian không đậu thai, và chỉ có phương pháp điều tiết sinh sản ấy mới không đi ngược lại những nguyên tắc luân lý căn bản mà Ta vừa nhắc nhở trên đây.

Giáo hội không mâu thuẫn khi chủ trương rằng: người ta được áp dụng phương pháp các thời gian không đậu thai, đồng thời lên án việc sử dụng những phương pháp trực tiếp gây trở ngại cho việc sinh sản, dù với những lý do có vẻ đứng đắn, lương thiện. Quả vậy, hai sự việc trên đây hoàn toàn khác biệt nhau; trong trường hợp thứ nhất, đôi bạn sử dụng một cách hợp pháp những dữ kiện tự nhiên, còn trong trường hợp thứ hai, họ cản trở một diễn biến của thiên nhiên. Tuy trong cả hai trường hợp, hai người phối ngẫu đều tích cực, đồng ý với nhau tìm cách tránh không cho có con vì những lý do thoả đáng, nhưng đặc biệt trong trường hợp trước, hai người tự kiềm chế, không sử dụng quyền hạn của hôn phối trong những thời gian có thể đậu thai vì những nguyên do hợp lý, và sử dụng quyền hạn đó trong thời gian không thể có con để biểu lộ tình thương nhau và bảo vệ lòng chung thuỷ với nhau. Trong hành động này, hai người đã chứng tỏ một tình yêu hoàn toàn và thực sự lương thiện.


Những hậu quả nghiêm trọng của việc áp dụng các phương pháp nhân tạo để điều hòa sinh sản


17. Những người thiện tâm thiện chí sẽ có dịp nhận chân giá trị của nền Giáo lý Giáo hội trong lãnh vực này, nếu họ chịu bình tâm suy nghĩ về những hậu quả tai hại của việc áp dụng các phương pháp nhân tạo để điều hòa sinh sản.

Trước tiên, họ cần lưu tâm đến hiện tượng nguy hiểm của sự bất trung trong hôn nhân cũng như đến việc luân lý trở thành sa đọa trong trường hợp các phương pháp trên được đem áp dụng. Không cần nhiều kinh nghiệm ta cũng thấy được rằng con người vốn yếu đuối và tất cả, nhất là giới thanh niên, thường dễ đi ngược lại nền luân lý, nếu không luôn luôn có người kèm bên khuyên bảo và nếu bây giờ ta còn giúp cho họ có dịp để vi phạm các lề luật luân lý thì thật hết chỗ nói! Một nguy cơ khác rất có thể xảy ra là nếu để con người tự do áp dụng những phương pháp ngừa sinh sản, dần dần có thể họ sẽ hết kính trọng người phụ nữ, mà khi đã coi thường sự thăng bằng về tâm lý và thể lý của người đàn bà, cuối cùng họ sẽ coi đó là dụng cụ thỏa mãn dục tính một cách ích kỷ, chứ không coi đó là người bạn đường đáng mến, đáng trọng nữa.

Chúng ta cũng cần nghĩ rằng, nếu chấp nhận việc tự do hạn chế sinh sản, rất nhiều chính quyền vốn dĩ đặt nhẹ các yêu sách của luân lý, sẽ triệt để lợi dụng khai thác ngay. Nếu các đôi vợ chồng được phép hạn chế sinh sản vì lý do gia đình, thì lấy cớ gì cấm đoán các chính quyền áp dụng chủ trương ấy để giải quyết các vấn đề của tập thể? Lúc đó, ai sẽ có quyền cấm đoán một chính phủ không những tán thưởng mà hơn thế nữa còn ép buộc dân chúng phải áp dụng những phương pháp ngừa thai mà họ cho là hiệu nghiệm hơn cả? Và thế là muốn tránh né những khó khăn của cá nhân, gia đình hay xã hội trong việc tuân giữ luật Chúa, cuối cùng người ta đã hoàn toàn dành cho các chính quyền được tự do thao túng một lãnh vực thân mật, cá nhân riêng biệt nhất của đôi vợ chồng.

Vậy nếu ta không muốn để loài người được quyền độc đoán quyết định về sứ mạng lưu truyền đời sống thì ta bó buộc phải chấp nhận một ranh giới nhất định ngăn cấm không cho ai vượt qua: Con người không có toàn quyền đối với thân xác cũng như các cơ năng của thân xác mình. Không ai dù với tư cách cá nhân, dù với tư cách chính quyền, được phép hủy bỏ ranh giới trên, là những ranh giới được ấn định bằng lòng tôn trọng đối với toàn bộ cơ thể và cơ năng con người theo đúng những nguyên lý trình bày trên đây và theo đúng "nguyên tắc toàn bộ" mà đấng Tiền nhiệm của Ta Ðức Piô XII đã nói (trong bài diễn văn đọc ngày 8/10/1953).


Giáo hội là bảo đảm cho những giá trị của con người

18. Ta biết trước lời giáo huấn này khó được sự tán thành của con người, vì hiện nay số người chống đối lại chủ trương của Giáo hội rất nhiều, và họ biết dùng những phương pháp tối tân để khuếch đại sự tuyên truyền của họ. Thực sự Giáo hội không ngạc nhiên khi thấy mình trở thành một "dấu hiệu chống đối" (Lc 2,34) giống Ðấng đã thiết lập mình. Nhưng Giáo hội vẫn luôn luôn khiêm tốn, vừa cương quyết tuyên bố tất cả nền luân lý - luân lý tự nhiên cũng như của Phúc âm. Giáo hội không phải là người tạo ra nền luân lý, vì thế Giáo hội không thể làm trọng tài, mà chỉ là người canh giữ, giải thích lề luật ấy. Giáo hội không có quyền tuyên bố một điều là hợp pháp khi nó bất hợp pháp, lý do vì ngược hẳn với lợi ích thực sự của con người.

Giáo hội biết rõ rằng: Khi đứng lên bảo vệ toàn bộ nền giáo lý hôn nhân, Giáo hội đồng thời cũng thiết lập một nền văn minh thực sự nhân bản. Giáo hội khuyến cáo loài người không nên chối bỏ trách nhiệm của mình và hoàn toàn phó thác cho các phương diện kỹ thuật; chính nhờ đó Giáo hội bảo đảm nổi phẩm giá của các đôi vợ chồng. Giáo hội luôn luôn trung thành với nền giáo huấn và gương sáng của Chúa Cứu Thế và luôn luôn chứng tỏ mình là người bạn chân thành và vô vị kỷ của nhân loại, vì Giáo hội muốn giúp đỡ họ, ngay từ trên con đường trần gian này, để "tham dự như con cái vào đời sống của Thiên Chúa là Chúa hằng sống và là Cha của mọi người" (Thông điệp Populorum Progressio). 





III. Những Hướng Dẫn Mục Vụ 
Giáo Hội Là "Mẹ Và Là Thầy" 


19. Lời nói của Ta sẽ không bộc lộ chân thành tư tưởng và lòng thiết tha của Giáo hội là Mẹ và là Thầy dạy các dân nước, nếu Ta chỉ nhắc nhở con người tôn trọng và tuân giữ lề luật của Thiên Chúa về vấn đề hôn nhân, mà không khuyến khích họ cố gắng noi theo phương pháp điều hòa sinh sản một cách chân chính, dầu gặp phải những trở ngại đang gây nhiều khó khăn cho các gia đình và các dân tộc. Quả vậy, đối với con người, Giáo hội không có quyền có một thái độ khác với thái độ của Chúa Cứu chuộc: Giáo hội thấu hiểu sự yếu hèn, thông cảm tình trạng của đám đông và sẵn sàng tiếp rước người tội lỗi; song Giáo hội không thể từ bỏ việc rao giảng lề luật, thứ luật của đời sống nhân loại đã khôi phục lại được nền chân lý nguyên thủy và tiến bước trong tinh thần Thiên Chúa (Rm 8).


Lề luật Chúa có thể tuân giữ được

20. Nhiều người sẽ cho học thuyết Giáo hội về vấn đề điều hòa sinh sản là một việc khó khăn không tuân giữ nổi. Ta công nhận rằng lề luật trên đây, cũng như hết mọi thực tại lớn lao và hữu ích, thường đòi hỏi cá nhân, gia đình và xã hội phải tận tâm cố gắng trong việc thi hành. Hơn thế nữa, Ta còn có thể nói rằng, nếu không có ơn Thiên Chúa nâng đỡ, thêm sức mạnh cho, con người sẽ không sao tuân hành được. Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, ta sẽ thấy rằng, sự cố gắng của con người trong lãnh vực này sẽ làm cho họ trở thành cao quý và phong phú hóa thực sự cho cộng đồng nhân loại.


Làm chủ lòng mình

21. Muốn điều hòa sinh sản của một cách đúng đắn, trước hết các người phối ngẫu phải tin tưởng mạnh mẽ vào chân giá trị của đời sống, của gia đình và phải tập luyện thế nào để có thể hoàn toàn làm chủ lòng mình. Việc dùng lý trí và ý muốn tự do để làm chủ bản năng lẽ tất nhiên đòi hỏi phải có một đời sống thiêng liêng đặc biệt, vì chỉ có thế đôi vợ chồng mới có thể biểu lộ một cách tốt đẹp tình thương yêu trong hôn nhân, đặc biệt trong việc hạn chế sử dụng tình yêu trong từng thời kỳ.

Kỷ luật của đời sống thanh tịnh giữa hai người phối ngẫu không hề làm suy giảm tình yêu trong hôn nhân, trái lại, còn làm cho hôn nhân ấy tăng thêm giá trị nhân bản. Kỷ luật này đòi hỏi bậc vợ chồng phải luôn luôn cố gắng, nhưng nó có một ảnh hưởng tốt đẹp và giúp cho hai người phối ngẫu phát triển toàn diện nhân vị mình và được phong phú hóa bằng các giá trị siêu nhiên. Chính nhờ đó, đời sống gia đình sẽ trở nên thanh tao, hòa hiệp giúp vợ chồng giải quyết dễ dàng các vấn đề khác. Cũng chính nhờ đó, người bạn sẽ lưu tâm đến người phối ngẫu của mình và cả đôi bên sẽ tránh được tính ích kỷ là một yếu tố làm hại tình yêu chân chính, đồng thời tinh thần trách nhiệm của hai người sẽ có dịp tăng thêm. Bậc cha mẹ nhờ tuân giữ kỷ luật này, sẽ tạo được một ảnh hưởng tốt đẹp mỹ mãn hơn trong việc giáo dục con cái: vì các trẻ em và thiếu niên lớn lên trong tinh thần tôn trọng các giá trị nhân bản, và có hoàn cảnh thuận tiện để phát triển các khả năng thiêng liêng và cảm xúc của mình.


Việc tạo ra một bầu không khí thuận tiện cho Ðức Thanh Khiết

22. Ta muốn nhân dịp này nhắc nhở các nhà giáo dục và những người có trách nhiệm đối với lợi ích công cộng lưu tâm một bầu không khí thuận tiện cho việc giáo dục về đức thanh khiết, nghĩa là giúp cho mọi người tôn trọng trật tự luân lý để sự tự do, một thứ tự do chân chính, chiến thắng sự buông tuồng trụy lạc.

Tất cả những phương tiện truyền thống xã hội nào có ý kích thích tình dục, suy đồi phong hóa, cũng như tất cả mọi hình thức trụy lạc, những hình ảnh, trình diễn khiêu dâm đều không thể chấp nhận, và những ai còn tha thiết với nền văn minh tiến bộ đều có nhiệm vụ chống đối để bảo vệ những lợi ích tối thượng của tinh thần con người. Tìm cách bào chữa cho những sự kiện, hiện tượng sa đọa ấy với những lý do nghệ thuật khoa học (Inter Mirifica của Công đồng Vatican II) hoặc vịn cớ Chính phủ tự do chứ không cấm đoán là một việc làm, một luận cứ vô vọng, vô ý thức.


Lời kêu gọi các nhà cầm quyền

23. Với các nhà cầm quyền, với những người có trách nhiệm chính yếu và có khả năng bảo vệ giá trị luân lý, Ta lên tiếng kêu gọi: xin quý vị đừng để nền luân lý của dân tộc mình trở thành đồi trụy; xin quý vị đừng để những tập quán sa đọa, ngược với luật thiên nhiên và luật Chúa, xâm nhập vào các gia đình là thành phần cấu tạo cốt yếu của xã hội. Các cơ quan chính quyền có thể và có nhiệm vụ cộng tác tham dự vào giải quyết vấn đề dân số bằng những phương pháp và đường lối chính đáng, bằng cách ấn định một chính sách gia đình được dự tính hóa từ trước, bằng cách ấn định một chương trình công dân giáo dục thật khôn ngoan, bằng cách tôn trọng lề luật luân lý cũng như quyền tự do của các công dân.

Ta cũng nhận thức rõ ràng những khó khăn gai góc mà các chính quyền gặp phải trong lãnh vực này, nhất là trong trường hợp của những quốc gia đang đi trên đà phát triển. Vì thế Ta đã dành riêng bức thông điệp Populorum Progressio để bình luận về những trường hợp ấy. Tuy nhiên, Ta cần nhắc lại nơi đây lời nhắn nhủ của Ðức Gioan XXIII, vị tiền nhiệm của Ta: "Không thể giải quyết khó khăn trở ngại bằng những phương pháp và đường lối bất xứng với nhân phẩm, vì chúng thường căn cứ trên một quan niệm hoàn toàn vật chất về bản thể và đời sống con người. Phương pháp duy nhất để giải quyết vấn đề trong chính sự phát triển kinh tế, tiến hóa xã hội và căn cứ trên tinh thần tôn trọng các giá trị nhân bản chân chính, về cá nhân cũng như về xã hội" (Thông điệp Mater et Magistra). Thật không có gì vô lý và bất công hơn là quy trách nhiệm cho Thiên Chúa quan phòng những sự việc xảy ra hoàn toàn do một nền cai trị thiếu khôn ngoan, chiếm hữu ích kỷ hoặc thái độ ươn hèn, ngại khó khăn hy sinh, không chịu cố gắng nâng cao mức sống của dân tộc và các công dân (Thông điệp Populorum Progressio).

Ta thiết tha mong ước các chính quyền hữu trách nhiệt thành và rộng rãi tăng gia nỗ lực, như một số các cơ quan công quyền đã làm một cách rất đáng khâm phục, Ta cũng mong ước các thành phần của đại gia đình nhân loại thêm phần trợ lực lẫn nhau; và đây là một lãnh vực hoạt động hết sức rộng rãi đang chờ đợi sự tham gia của các cơ cấu tổ chức quốc tế lớn trên thế giới.


Lời kêu gọi các nhà bác học

24. Tới đây Ta muốn lên tiếng khuyến khích các nhà bác học, là những người vốn "dồi dào khả năng để cộng tác nghiên cứu, khám phá thêm những điều kiện thuận lợi cho việc điều hòa một cách chính đáng vấn đề sinh sản hầu giúp cho hôn nhân trở thành tốt đẹp, cho các gia đình được yên vui, cho các lương tâm đỡ khắc khoải" (Hiến chế Mục vụ "Vui Mừng Và Hy Vọng" - Gaudium et Spes, số 52). Ðặc biệt, như Ðức Piô XII đã có lần biểu lộ, Ta mong ước cho y khoa thành công trong việc khám phá, ấn định được những tiêu chuẩn chắc chắn về các chu kỳ tự nhiên của con người, hầu giúp cho các đôi vợ chồng có thể căn cứ vào đó và vững tâm tuân giữ để điều hòa sinh sản. Và với công tác đó, các nhà bác học, đặc biệt là các nhà bác học Công giáo, có thể chứng minh bằng những sự việc rõ ràng lời giáo huấn sau đây của Giáo hội là: "giữa những lề luật do Thiên Chúa ấn định để lưu truyền đời sống và các lề luật bảo vệ tình yêu trong hôn nhân, không gì mâu thuẫn cả" (Hiến chế mục vụ "Vui Mừng Và Hy Vọng" - Gaudium et Spes, số 51).


Lời kêu gọi các đôi vợ chồng Kitô giáo

25. Tới đây, Ta lên tiếng kêu gọi thẳng các con cái của Giáo hội, đặc biệt là những người Thiên Chúa đã chọn sống trong bậc vợ chồng. Các con nên nhớ rằng, Giáo hội không phải chỉ trình bày những đòi hỏi của lề luật Thiên Chúa, mà còn tuyên bố ơn cứu rỗi, dùng các phép bí tích để mở rộng con đường của ơn thánh, là ơn làm cho con người đã trở nên một tạo vật mới đủ khả năng thực hiện trong tinh thần tự do và yêu mến ý định của Ðấng Tạo hóa, đồng thời cũng là Ðấng Cứu chuộc, và nhận thấy ách của Chúa Kitô thật là êm ái nhẹ nhàng. (Mt 11,30).

Chớ gì các đôi vợ chồng Kitô giáo tuân theo tiếng Chúa gọi, nhớ kỹ rằng thiên chức Kitô hữu của mình bắt đầu từ ngày chịu phép Rửa tội, để rồi được xác nhận rõ ràng thêm khi chịu Bí tích hôn phối. Nhờ phép Bí tích này các người phối ngẫu trở thành vững mạnh để chu toàn nhiệm vụ của mình, để thực hiện sứ mạng của mình một cách hoàn hảo, để trở thành người chứng nhân xứng đáng về Kitô giáo trước mặt thế gian (Hiến chế mục vụ "Vui Mừng Và Hy Vọng" - Gaudium et Spes, số 18, Hiến chế tín lý "Ánh Sáng muôn Dân" - Lumen Gentium, số 35). Họ chính là những người đã được Thiên Chúa giao cho trách vụ biểu lộ tính chất thánh thiện và sự êm dịu của lề luật liên kết hai sự việc tình yêu giữa hai người phối ngẫu và việc họ cộng tác với Thiên Chúa tình yêu tạo dựng đời sống con người.

Ta không có ý che giấu các khó khăn, nhiều khi hết sức gai góc, mà các đôi vợ chồng Kitô hữu thường xuyên gặp phải: đối với họ, cũng như đối với mọi người. Ta muốn nói: "Cửa dẫn vào sự sống thì chật, đường đưa tới sự sống thì hẹp" (Mt 7,14; Dt 12,11). Nhưng Ta tin rằng viễn ảnh của sự sống đó sẽ chiếu sáng đường lối, và nếu họ nhớ rằng "Thế gian này sẽ qua đi" (I C 7,31), họ sẽ đủ can đảm vượt mọi khó khăn để sống một cách khôn ngoan, công chính và sốt sắng trong thời gian hiện tại (Tt 2,12).

Chớ gì các đôi vợ chồng cố gắng mỗi khi cần thiết, đồng thời trông cậy vào sức mạnh của Ðức Tin, Ðức Cậy là những nhân đức "không hề lừa dối ai, vì Thiên Chúa đã ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần là Ðấng tràn đầy tình yêu Chúa vào tâm hồn chúng ta" (Rm 5,5). Chớ gì họ kiên trì cầu xin Chúa ban ơn hộ giúp; nhất là chớ gì họ tìm kiếm trong Phép Thánh Thể nguồn mạch ơn Thánh và đức bác ái. Và nếu tội lỗi vẫn đè nén trên họ, họ đừng có thất vọng, hãy nhẫn nại khiêm tốn xin Chúa mở lòng từ bi thương xót tha thứ bằng phép Bí tích giải tội. Chỉ có thế, họ mới thực hiện nổi trọn vẹn đời sống hôn nhân đúng như Thánh Phaolô đã viết trong thư gửi dân thành Êphêsô (5,25.28-29.32-33), "Hỡi các người chồng, hãy yêu vợ mình như Chúa Kitô đã yêu Giáo hội. Các người chồng phải yêu vợ như chính thân xác mình. Vì yêu thương vợ là yêu thương chính mình. Mà ta thấy rằng không ai ghét thân xác mình bao giờ; họ nuôi dưỡng, coi sóc, gìn giữ y như Chúa Kitô đã làm đối với Giáo hội... Nhiệm tích này thật là vĩ đại so sánh với Chúa Kitô và Giáo hội. Nhưng về phần anh em, chớ gì mỗi người hãy yêu vợ như yêu chính mình và chớ gì người vợ hãy kính trọng chồng mình!"


Việc Tông đồ giữa các gia đình

25. Trong số các hậu quả tốt đẹp của việc trung thành với lề luật Thiên Chúa, hậu quả quý báu nhất chính là việc thường khi chính các người phối ngẫu cảm thấy nên truyền thông kinh nghiệm của mình cho người khác. Do đó, trong lãnh vực tông đồ giáo dân, ta thấy phát hiện một hình thức mới mẻ và đặc biệt: Ở đây chính các gia đình trở thành Tông đồ và đứng ra hướng dẫn các gia đình khác. Và không ai phủ nhận rằng, đây là một hình thức Tông đồ thích thời nhất hiện nay (Hiến chế tín lý "Ánh Sáng Muôn Dân" - Lumen Gentium, số 35 và 41; Hiến chế Mục vụ "Vui Mừng Và Hy Vọng" - Gaudium et Spes, số 48-49).


Lời kêu gọi các Bác sĩ và nhân viên Y tế

27. Ta thành thật ngưỡng mộ các bác sĩ và các nhân viên ngành y tế đã biết tuân theo các yêu sách của thiên chức người Kitô hữu trong khi thi hành chức vụ, và đặt quyền lợi loài người dưới quyền lợi siêu nhiên. Chớ gì họ tiếp tục đưa ra mỗi khi cần thiết những biện pháp căn cứ trên Ðức Tin, lý trí chân chính và hãy tìm cách tuyên truyền giải thích cho giới của mình tin tưởng và tôn trọng các biện pháp ấy. Ta cũng mong ước họ sẽ dùng hết lương tâm chức nghiệp, phát minh những sự kiện mới về khoa học liên quan đến lãnh vực tế nhị này và giúp các đôi vợ chồng tới thăm bệnh những ý kiến khôn ngoan và ngay chính.


Lời kêu gọi các Linh mục

28. Hỡi các Linh mục, đoàn con yêu dấu của Ta, thiên chức đã đặt chúng con làm cố vấn và làm người hướng dẫn thiêng liêng của cá nhân cũng như của các gia đình. Giờ đây, Ta đặt tất cả lòng tin tưởng nơi chúng con. Nhiệm vụ đầu tiên của chúng con, nhất là những người phụ trách giảng dạy khoa luân lý thần học, là thẳng thắn trình bày nền giáo huấn của Giáo hội liên quan đến hôn nhân. Trong khi thi hành giáo vụ, chúng con hãy xung phong nêu gương chứng tỏ mình hoàn toàn chấp nhận, trong tâm trí cũng như bên ngoài, lời chỉ dẫn của giáo quyền. Chúng con cũng biết rằng, tinh thần chấp nhận ấy không phải chỉ vì những lý do, luận cứ dã nêu ra riêng đây, mà vì chúng con đã được ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, dành riêng cho các vị chủ chiên trong việc trình bày và giải thích chân lý (Hiến chế tín lý "Ánh Sáng Muôn Dân" - Lumen Gentium, số 25). Chúng con cũng biết rằng, muốn cho các lương tâm được yên ổn, muốn bảo vệ tính chất thống nhất của dân Kitô giáo, chúng con cần phải hoàn toàn vâng phục lời chỉ dẫn của giáo quyền, không phải chỉ trong lãnh vực Tín lý mà cả trong lãnh vực Luân lý nữa; chúng con cần phải cùng chung một ý kiến, cùng nói một tiếng nói. Vì thế, Ta dùng lời của Thánh Cả Tông đồ Phao lô để thiết tha kêu gọi chúng con: "Hỡi anh em, nhân danh Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, tôi khuyên anh em hãy cùng có một tình cảm; chớ gì anh em đừng chia rẽ, trái lại, hãy hợp nhất trong cùng một tinh thần và một tư tưởng" (1C 1,10).

29. Một hình thức bác ái cao siêu hơn cả là đừng tìm cách dấu diếm giáo lý của Chúa Kitô. Nhưng trong việc này, ta cần phải giữ đức nhẫn nại và nhân từ như chính Chúa đã làm gương trong cách đối xử với người đồng thời. Chúa đã đến không phải để xét đoán, nhưng để cứu rỗi (Ga 3,17): Chúa đã giữ thái độ quyết liệt đối với sự dữ, nhưng trái lại, đã tỏ lòng nhân từ đối với con người. Khi gặp các gian nan thử thách, chớ gì các đôi vợ chồng luôn tìm được nơi tâm hồn và tiếng nói của Linh mục, hình ảnh và tiếng vang của tình yêu cũng như lời nói của Chúa Cứu Chuộc.

Hỡi đoàn con yêu dấu, chúng con hãy nói lên một cách tin tưởng, hãy vững tin nơi Chúa Thánh Linh, vì không những Người chỉ soi sáng giáo quyền trong công tác trình bày Giáo lý, mà đồng thời cũng soi sáng nội tâm người Kitô hữu để giúp họ sốt sắng chấp nhận giáo lý đó. Chúng con hãy dạy cho các đôi vợ chồng con đường thiết yếu của lời cầu nguyện, hãy chuẩn bị tập luyện giúp họ thường xuyên và tin tưởng tìm đến các Phép Bí tích Thánh thể và Giải tội, và đừng có bao giờ thất vọng trước sự yếu đuối của con người.


Lời kêu gọi các vị Giám mục

30.
Chư huynh đáng kính trong hàng Giám mục, các vị là những người cùng mang như Ta niềm lo âu đối với lợi ích thiêng liêng của dân Chúa; tới đây là phần kết luận của bức Thông điệp; và Ta đặc biệt nghĩ tới các vị với tất cả tấm lòng thương mến quý trọng. Ta khẩn thiết kêu gọi Quý vị hãy hướng dẫn các Linh mục (là cộng tác viên của mình) và giáo dân, hăng hái và không ngừng hoạt động để bảo vệ sự thánh thiện của hôn nhân, để nó luôn luôn giữ được trọn vẹn tính chất nhân bản và Kitô giáo của mình. Các vị hãy coi đó là một trong những trách vụ khẩn thiết của giai đoạn hiện tại. Các vị tất nhiên cũng biết rằng: trách vụ đó bao gồm việc hoạt động mục vụ trong tất cả mọi lãnh vực sinh hoạt của con người: kinh tế, văn hóa và xã hội; quả vậy phương pháp duy nhất là phải đồng loạt cải thiện các lãnh vực trên đây để giúp cho đời sống của cha mẹ, con cái trong gia đình, không những dễ thở, mà còn hạnh phúc, sung sướng hơn, để giúp cho cuộc sống chung trong xã hội trở nên thân hữu và an bình hơn, và tất cả đều sẵn sàng theo ý định chương trình của Thiên Chúa đối với trần gian.



Lời kêu gọi cuối cùng

Chư huynh đáng kính. Các con yêu dấu, 


31. Những người thiện tâm thiện chí, Ta kêu gọi tất cả hãy tham dự vào một công cuộc giáo dục, tiến bộ và tình yêu vĩ đại, căn cứ trên nền tảng lời giáo huấn của Giáo hội mà người kế vị Thánh Phêrô và các anh em trong hàng Giám mục là người có nhiệm vụ giữ gìn và giải thích. Quả vậy, Ta tin chắc rằng, đây là một công cuộc vĩ đại đối với thế giới cũng như đối với Giáo hội, lý do vì con người chỉ có thể tìm được chân hạnh phúc mà họ luôn luôn thiết tha mong muốn bằng cách tôn trọng các lề luật Thiên Chúa đã ghi khắc trong bản tính con người và có nhiệm vụ phải tuân hành với tất cả lý trí và tình yêu, Ta nguyện xin ơn Chúa xuống tràn đầy công cuộc này và trên anh em, đặc biệt là trên các đôi vợ chồng; và để chứng tỏ lòng từ bi Thiên Chúa, Ta ban cho tất cả Phép lành Tòa Thánh.

Ðền Thánh Phêrô, Rôma ngày 25 tháng 7, lễ Thánh Giacôbê Tông Ðồ, năm 1968, năm thứ sáu triều Giáo hoàng của Ta. 

_________________________________

* Bản dịch của Lm. Phan Du Sinh, Senatus Saigon xuất bản năm 1969 )

* Bản dịch do Senatus Saigon xuất bản năm 1969 trong tập Công Ðồng Chung Vatican II, có chỉnh sửa một vài từ)

Nguồn: caritasvietnam.org