Suy tư Giáo huấn của Giáo hội về ngừa thai nhân tạo

Tự bản chất, đời sống hôn nhân gia đình nhằm để giúp đỡ lẫn nhau và lưu truyền sự sống, đây là sứ mạng cao cả mà Thiên Chúa trao phó cho các bậc làm cha làm mẹ. Thế nhưng, để hoàn thành sứ mạng cao cả này không phải là chuyện dễ, bởi nó xẩy ra những khó khăn và phức tạp trong đời sống hôn nhân cũng như lương tâm của họ phải đối diện. Bên cạnh đó, sự phát triển của xã hội cũng như công nghệ kỷ thuật y học đã làm thay đổi và đưa ra những vấn nạn mới cho đời sống hôn nhân và gia đình. Bởi vậy, đứng trước hoàn cảnh và tình trạng đó, Giáo hội không thể làm ngơ, nhưng phải xem là có bổn phận và trách nhiệm hơn, vì nó liên quan đến sự sống và hạnh phúc của con người. Trong tinh thần đó, người viết xin tìm hiểu và suy tư đôi điều liên quan đến “Giáo huấn của Giáo hội về ngừa thai nhân tạo”. Trong phạm vi đề tài này, người viết xin nêu lên: Lập trường của Giáo hội; đồng thời cũng giải thích vấn đề: Tại sao Giáo hội lại đưa ra lập trường như thế?



1. Lập trường của Giáo hội 

Qua thời gian học môn “Luân Lý Y – Sinh Học”, tôi có dịp tìm hiểu và đọc những văn kiện của Giáo hội liên quan đến sự sống con người. Bên cạnh đó, tôi được Sơ giáo sư giải thích những gì liên quan đến Giáo huấn của Giáo hội, cũng như đưa ra những vấn đề thực tiễn đang xẩy ra đối với con người, cách riêng đối với đời sống hôn nhân gia đình. Những điều đó giúp tôi có cái nhìn tổng quát hơn về môn học, và thấy được lập trường của Giáo hội đối với những vấn nạn liên quan đến việc ngừa thai nhân tạo.

Sau khi đọc và tìm hiểu những văn kiện của Giáo hội [1] liên quan đến việc ngừa thai nhân tạo, tôi nhìn thấy rằng: lập trường của Giáo hội không chấp nhận việc thụ thai nhân tạo bất kỳ dưới mọi hình thức nào. Vì nó trái với tự nhiên và đi ngược lại với bản chất của đời sống hôn nhân và gia đình.

2. Tại sao Giáo hội đưa ra lập trường như thế? 

Giáo hội là mẹ của chúng ta, bởi thế, Giáo hội luôn thao thức và quan tâm đến những gì con cái mình đang đối diện, đang gặp những khó khăn, đặc biệt liên quan đến đời sống hôn nhân. Do đó, vấn đề đời sống hôn nhân đã được Công đồng Vaticanô II quan tâm và có một chỗ đứng quan trọng trong Hiến chế Gaudium et Spes. Phần nói về hôn nhân, Hiến chế đưa ra và nhấn mạnh đến lập trường riêng của mình về vấn đề này. Hiến chế cho thấy căn tính đặc biệt của tình yêu hôn nhân là: tình yêu phu phụ. Đây là một tình yêu trao hiến cách trọn vẹn, duy chỉ có nơi đời sống hôn nhân. Nó khác biệt với mọi hình thức khác của tình bạn ở điểm nó được biểu lộ và được hoàn hảo bằng hành vi thể lý của vợ chồng, một hành vi vừa biểu tượng vừa phát huy việc vợ chồng hiến thân cho nhau.[2] Tình yêu phu phụ này phát xuất từ nguồn suối tình yêu Thiên Chúa, và được xây dựng theo gương mẫu tình yêu của Chúa Kitô dành cho Hội thánh. Hơn nữa, tình yêu phu phụ được nối kết với tình yêu Thiên Chúa và dẫn đưa họ tới Thiên Chúa. Đồng thời, tình yêu hôn nhân dẫn tới một mục đích là giúp đỡ, phục vụ lẫn nhau và sinh sản con cái.

Dù không tuyên bố liệu có được phép ngừa thai nhân tạo hay không, nhưng Hiến chế đã suy tư và thảo luận vấn đề này. Theo Hiến chế, cha mẹ phải sinh sản con cái một cách có trách nhiệm, lưu tâm tới chính phúc lợi của mình và phúc lợi của con cái. Cha mẹ nên xem xét hoàn cảnh vật chất và tâm linh của thời đại, quyền lợi của gia đình, của xã hội trần thế và của Giáo hội. Trong một số tình huống, còn có sự đối nghịch giữa các yếu tố khác nhau. Có thể có những lý do nghiêm chỉnh khiến người ta phải hạn chế số con cái. Đồng thời, việc hạn chế tính dục có thể tạo ra nhiều vấn đề. Thí dụ, nó có thể khiến cho việc duy trì lòng chung thủy trong tình yêu và sự thân mật vợ chồng trở thành khó khăn. Việc phán đoán nên có con hay không là việc của cha mẹ, nhưng họ không nên quyết định một cách võ đoán. Bổn phận luân lý không chỉ bao gồm động cơ mà thôi, mà còn đòi phải tuân giữ các tiêu chuẩn khách quan nữa. Trong phạm vi tác phong tính dục, các tiêu chuẩn này là các tiêu chuẩn biết dựa vào bản chất con người nhân bản và các hành vi của họ, để duy trì trọn vẹn ý hướng tự hiến cho nhau và sinh sản con cái trong khung cảnh một tình yêu chân chính. Cha mẹ có bổn phận phải khước từ phá thai. Họ phải có một lương tâm hiểu biết, một lương tâm phù hợp với thiên luật và vâng phục Giáo huấn của Giáo hội là người giải thích thiên luật ấy.

Tiếp sau Hiến chế Gaudium et Spes, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã ban bố Thông điệp Humanae Vitae, nhằm hướng dẫn cách thích nghi về bản chất hôn nhân, cũng như sử dụng chính đáng các quyền lợi của vợ chồng và trách nhiệm của họ. Thông điệp hướng dẫn rằng: “Nhờ việc tự hiến cho nhau, một sự tự hiến riêng biệt và có tính độc hữu đối với họ, hai vợ chồng cùng hướng về sự hiệp thông con người của họ nhằm để hoàn thiện nhau, cộng tác với Thiên Chúa để sinh sản và giáo dục sự sống mới”.[3] Tình yêu phu phụ hoàn toàn có tính nhân bản, vừa có tính giác quan vừa có tính tâm linh cùng một lúc. Không chỉ là một bản năng hay cảm xúc mà thôi, nhưng còn là một hành vi của ý chí nhằm sinh tồn và phát triển đến chỗ chồng và vợ trở nên một tâm hồn duy nhất. Tình yêu này không chỉ giới hạn trong sự hiệp thông giữa chồng và vợ, nó còn được sắp đặt để tiếp tục qua việc dưỡng dục các sự sống mới.

Đức Giáo hoàng Phaolô VI, sau đó tuyên bố lại việc không được phép ngừa thai nhân tạo, và nhắc lại giáo huấn truyền thống là giáo huấn vốn dạy rằng mỗi một và mọi hành vi vợ chồng phải sẵn sàng cho việc truyền sinh. Ngài viết tiếp: “Giáo huấn ấy, một giáo huấn đã được huấn quyền đưa ra, được xây dựng trên mối liên kết bất khả phân do Chúa ấn định và con người không thể dùng sáng kiến riêng để phá bỏ giữa hai mục đích (ý nghĩa) của hành vi vợ chồng: mục đích kết hợp và mục đích sinh sản. Quả thực, do cơ cấu thâm sâu của nó, hành vi vợ chồng, trong khi mật thiết kết hợp chồng và vợ nên một với nhau, đã giúp họ có khả năng sinh ra sự sống mới, phù hợp với các định luật được khắc ghi trong chính hữu thể của họ. Nhờ bảo vệ cả hai khía cạnh chủ yếu này, tức khía cạnh kết hợp và khía cạnh sinh sản, hành vi vợ chồng duy trì trọn vẹn được ý hướng của tình yêu hỗ tương chân thực và sự xếp đặt của nó hướng tới ơn gọi cao cả nhất của con người là làm cha mẹ. Chúng tôi tin rằng con người thời nay đặc biệt có khả năng nắm được đặc điểm hết sức hợp lý và đầy nhân bản của nguyên tắc nền tảng này”.[4]

Tóm lại, qua tìm hiểu Giáo huấn của Giáo hội, tôi nhận thấy rằng, Giáo hội luôn ý thức về sứ mệnh của mình là phải bênh vực con người và ý thức về bảo vệ toàn thể nhân loại trước những khó khăn và thách đố. Sứ mệnh đó là hầu để mang lại hạnh phúc cho con người và giúp con người sống bình an. Vì thế, với sứ mạng mình, Giáo hội tuyệt đối không chấp nhận bất cứ mọi hình thức ngừa thai nhân tạo nào. Tự bản chất, việc ngừa thai nhân tạo nó đã làm tách rời mục đích và ý nghĩa của tình yêu và đời sống hôn nhân. Chính các mục đích và ý nghĩa này đã được luật tự nhiên là luật vốn được khắc ghi trong trái tim con người nhận biết. Một số qui luật luân lý, trong đó, có các qui luật luân lý về tính dục, là các đòi hỏi bất di bất dịch của bản chất con người, chứ không phải chỉ là sản phẩm của văn hóa sẽ thay đổi khi văn hóa thay đổi. Chính vì thế, Giáo hội có đường hướng và lập trường riêng để hướng dẫn cho con cái của mình, hầu mọi người được sống hạnh phúc và hưởng trọn vẹn tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa trong ơn gọi sống đời sống hôn nhân của mình.

Peter Bang

[1] Guadium et Spes, các số 48,49,50,51; Humanae Vitae; Evangelium Vitae và Donum Vitae

[2] Gaudium et Spes, số 49

[3] Humanae Vitae, số 8 [4] Humanae Vitae, số 12


Nguồn: blog Sông Danh Ân Tình

Viết cho em, một người đồng tính


Em thân mến,

Cuộc đời là một dòng chảy nghiệt ngã mà có khi ta phải vật lộn với nó để tìm lối thoát cho mình. Cứ như một sự tình cờ, chúng ta được hiện diện trong dòng chảy ấy để rồi từ đó chúng ta tận hưởng mọi nỗi sướng khổ buồn vui.

Em nặng lòng khi chia sẻ với tôi rằng em là một người đồng tính và em đang vật lộn với dòng chảy của phận người vốn đã khắc nghiệt lại càng nan giải cho số phận của em. Em là một người Công giáo luôn thao thức và lắng nghe tiếng nói lương tâm để hành xử cho phải đạo. Tư cách là người Công Giáo ấy dường như càng làm cho em càng dằn vặt hơn. Em chia sẻ rằng em đang yêu một người cùng giới. Sức hút của tình yêu ấy có vẻ đang sôi sục trong em, chiến đấu với tiếng nói của luân thường đạo lý trong em. Tình yêu ấy cũng mang đến cho em nhiều nỗi sợ: em sợ kỳ thị của xã hội, em sợ xúc phạm tới Thiên Chúa. Tất cả những tâm tư ấy làm cho em đau khổ quá chừng.

Em thân mến,

Tôi cảm thông và tôn trọng em; dù trong hoàn cảnh nào đi nữa chúng ta luôn là những người bạn trong Chúa. Tôi là gì mà dám phán xét hay kỳ thị em? Tôi là ai mà có quyền cấm đoán em không được yêu hay được phép yêu một người nào đó? Tôi viết cho em lá thư này với tâm tình của một người bạn đang lắng nghe những nỗi niềm của em. Thế nhưng, trân trọng và yêu thương em là một chuyện đương nhiên; còn việc ủng hộ, tán thành cho lối sống đồng tính lại là chuyện khác. Chúng ta là người Công Giáo nên chúng ta tin rằng Chúa thể hiện ý của Người nơi những giáo huấn của Giáo Hội. Làm theo những gì Giáo Hội dạy, dù có khi làm chúng ta khó chịu, nhưng chắc chắn sẽ đưa chúng ta tới bến bờ hạnh phúc, vì Mẹ Giáo Hội chỉ luôn mong muốn cho con cái mình được sống bình an và triển nở trong tình yêu của Chúa mà thôi.

Em biết đấy, cả Giáo Hội và khoa học đều đã xác nhận rằng đồng tính không phải là một căn bệnh nên nó không có thuốc chữa trị. Hiểu nôm na, nó là những liên hệ giữa những người đồng phái, cảm thấy một sự hấp dẫn tính dục, độc chiếm hoặc vượt trội đối với nhau. Hiện tượng này đã có từ lâu trong lịch sử nhân loại chứ không phải là hậu quả của lối sống tục hóa ngày nay. Chẳng qua là khi con người sống cởi mở hơn thì những người trong cuộc mới dám khảng khái thừa nhận xu hướng tình dục của mình. Các nhà khoa học còn cho biết ngay cả ở động vật cũng có xu hướng này. Vì thế, em đừng nên mặc cảm vì có vẻ mình hơi “khác người bình thường” chỉ vì em bị rung động bởi một người cùng giới tính. Em vẫn là hình ảnh của Thiên Chúa, em vẫn là con cái của Người, vẫn được giá máu của Đức Kitô cứu chuộc, và vẫn được mời gọi để đồng thừa kế Vương Quốc vĩnh cửu của Đấng Tối Cao.

Nhưng em biết đấy, chẳng ai trong chúng ta là người hoàn hảo cả. Mỗi người sinh ra trong cuộc đời đều được trao cho một cây thập giá. Và để được thừa hưởng niềm hạnh phúc miên viễn của Thiên Chúa, chúng ta phải vác cây thập giá ấy lên tận đỉnh đồi cao như Giêsu đã làm. Đối với một số người, đó có thể là bệnh tật. Người khác có thể là bất hạnh trong gia đình. Người nọ có thể là nỗi cơ cực của kiếp mưu sinh… Hẳn là em cũng đồng ý với tôi rằng đâu phải ai yêu nhau cũng đến được với nhau, sống hạnh phúc với nhau trọn kiếp trọn đời, phải không? Đó cũng là một kiểu thánh giá dành cho họ. Chúng ta không có tự do tuyệt đối như Thiên Chúa, nên chúng ta phải chấp nhận những gì Tạo Hóa dành cho chúng ta. Gồng mình lên để kháng cự thì chỉ làm ta thêm đau khổ, còn xem nó là một “món quà”, thì ta sẽ dễ thở hơn rất nhiều, dù thật khó để có một thái độ như vậy. Vâng, thập giá là món quà em à, vì nó giúp chúng ta được nên giống Chúa. Xu hướng đồng giới của em đích thực là một thập giá, nhưng có bao giờ em nghĩ rằng đó cũng là một món quà chưa?

Mẹ Giáo Hội dạy chúng ta rằng quan hệ tình dục đồng tính xúc phạm đến điều răn thứ Sáu trong Mười điều răn, và đi ngược lại mục đích của hôn nhân Kitô giáo. Giáo Hội yêu mến và cưu mang em, Giáo Hội cũng không thể bắt con tim của em ngừng yêu một ai đó, nhưng Giáo Hội buộc phải từ chối một kiểu hôn nhân và quan hệ tình dục đồng giới bởi vì nó “tự bản chất là vô trật tự. Chúng nghịch với luật tự nhiên. Chúng khép kín hành vi tính dục khỏi việc ban tặng sự sống. Chúng không phát xuất từ tính bổ sung thật sự về tình cảm và tính dục.” (Giáo Lý Số 2357). Hành vi tình dục phải được diễn tả trong môi trường hôn nhân có tình yêu để hướng đến việc trao ban sự sống. Thế nên, ngay cả những người dị giới mà quan hệ tình dục vô lối và ngoài hôn nhân cũng là điều không nên rồi.

Giáo Hội luôn hiểu cho hoàn cảnh của những người giống như em nên không ngừng căn dặn con cái mình rằng: “Một số không nhỏ những người nam và người nữ có khuynh hướng đồng tính luyến ái thâm căn. Đối với đa số những người này, sự nghiêng chiều vô trật tự một cách khách quan đó, là một thử thách. Họ phải được đón nhận với sự tôn trọng, thông cảm và tế nhị. Phải tránh bất cứ dấu hiệu phân biệt đối xử bất công nào đối với họ. Những người này được mời gọi thực thi ý Chúa trong đời sống của mình, và nếu là Kitô hữu, họ được kêu gọi kết hợp các khó khăn của họ có thể gặp phải do hoàn cảnh của mình, với hy lễ Thập giá của Chúa.”(Giáo Lý số 2358). Lại một lần nữa, Giáo Hội nhắc đến khó khăn mà em đang trải qua là một kiểu thập giá. Gọi là thập giá bởi vì nó đòi hỏi em phải đánh đổi, phải chịu đau khổ, phải hy sinh, phải từ bỏ. Nhưng sẽ là vô ích nếu như em gánh chịu những điều này mà chẳng để làm chi. Giáo Hội khẳng định với em rằng chỉ cần em kết hợp thập giá này của em với thập giá cứu chuộc của Chúa, em cũng sẽ được sống hạnh phúc với Người trong Nước Trời.

Em đã rất can đảm khi mạnh dạn đương đầu với dòng chảy cuộc đời trớ trêu này. Hy vọng em cũng dám đối diện để đứng trên đôi chân của mình và mở lòng để ân sủng của Thiên Chúa đến với em. Giáo Hội kêu gọi em hãy “sống khiết tịnh. Các nhân đức giúp tự chủ sẽ dạy cho em biết sự tự do nội tâm, và có khi nhờ sự nâng đỡ của tình bằng hữu vô vị lợi, nhờ việc cầu nguyện và ân sủng bí tích, chính em có thể và dần dần cương quyết tiến đến sự trọn hảo Kitô giáo”(x. Giáo Lý số 2359).

Em có thể gào lên vì những bức bối dày xéo con tim hay vì những kỳ thị bất công của bao người nhìn về chính em! Con người có thể đối xử tệ bạc với em nhưng Chúa thì không bao giờ như vậy. Giáo Hội của Chúa luôn đón nhận, yêu thương và chăm sóc em, giúp em có được niềm hạnh phúc đích thực. Mục đích của tôi và của em trong dòng chảy cuộc đời này là gì nếu không phải là mưu cầu hạnh phúc mà Đấng là Tình yêu, là Đường và Sự thật có thể ban cho? Đường lối – Luật lệ của Thiên Chúa chắc chắn sẽ cho em một lối thoát cho những ách tắc của em lúc này. Chẳng phải Thiên Chúa ngay từ đầu đã tạo nên chúng ta là một giống loài thánh thiêng đó sao? Đối với Người, em thật quý giá biết bao dù em có thế nào đi chăng nữa. Ngay lúc này đây, Thần Khí Chúa vẫn đang hoạt động trong em, cho em được sinh sống, hít thở và mời gọi em bước tiếp trên đường lành. Mỗi người chúng ta đều lãnh nhận từ nơi Chúa một lời mời gọi. Có người được Người trao cho khả năng sinh sản để cho mặt đất này thêm phần hương sắc. Có người được mời gọi để sống khiết tịnh suốt cuộc đời. Em hãy luôn biết tin tưởng phó thác trong tình yêu của Người để vươn lên và sống trong dòng chảy tuy nghiệt ngã những thú vị này, em nhé!

Chúc em bình an và can đảm.

Phạm Đình Ngọc, S.J

Nguồn: dongten.net

Kinh cầu xin thánh Giêrađô cho các bà mẹ đương thai


Lạy Thánh Giêrađô nhân lành "Vị Bổn Mạng của những Bà Mẹ Đương Thai" xin hãy giúp con biết cảm tạ Chúa vì được ban ơn làm mẹ. Trong thời kì thai nghén, con đã học biết kêu cầu cùng Thánh nhân, và đặt sự an toàn của mẹ con chúng con dưới sự chở che quyền năng của Ngài. Nơi Thánh nhân, con học được sự tin tưởng vào Chúa và châm ngôn sống "Chúa sẽ lo liệu" của Thánh nhân trở thành niềm hy vọng và sự an ủi con.

Con xin cảm tạ Thánh Giêrađô đã ban cho hai mẹ con chúng con được mạnh khỏe. Xin Ngài hãy giúp con biết trân trọng ân huệ làm mẹ, và ban cho con những cần thiết để nuôi dạy con cái thành người con của Chúa. Với tâm tình tạ ơn, con sẽ tiếp tục kêu cùng Thánh nhân, xin Ngài ban ơn cho chúng con và các bà mẹ đương thai trên thế giới, đang mong mỏi được thấy con mình mở mắt chào đời trong mạnh khỏe và bình an. Amen.

Tại Trung Quốc, phụ nữ là gia súc

Liên quan đến Trung Quốc, Le Nouvel Observateur bình luận về cuốn sách đề tựa: «Con đường tối mịt» (La route sombre) của tiểu thuyết gia Mã Kiến (Ma Jian), hiện đang sống lưu vong tại Luân Đôn. Ông đã vẽ lại cơn ác mộng của xã hội Trung Quốc dưới thời chính quyền Bắc Kinh thi hành chính sách một con và kiểm duyệt gay gắt việc sinh sản.

Một phụ nữ bị cưỡng bức phá thai bên cạnh đứa con đã chết

Trả lời phỏng vấn tạp chí Le Nouvel Observateur, ông công kích việc chính quyền trung ương cưỡng bức hàng nghìn phụ nữ phá thai và triệt sản khi thi hành luật kế hoạch hóa gia đình. Từ năm 1989 và sau sự kiện Thiên An Môn, chẳng có gì thay đổi tại Trung Quốc. Ông thuật lại, tại tỉnh Sơn Đông, 20000 phụ nữ bị buộc phá thai đến mức bệnh viện quá tải phải dựng lều ngoài đường để làm việc. Thai nhi bị vứt xuống giếng, đến nỗi mùi hôi thối kéo dài trong nhiều tháng. Người dân gọi giai đoạn này là cuộc thảm sát cừu non.

Các cuộc thảm sát như vậy diễn ra khắp nơi tại Trung Quốc nhưng chính quyền ém nhẹm đi. Ông xem hành vi cưỡng bức phá thai là một tội ác diệt chủng, chống nhân loại vẫn xảy ra thường ngày tại Trung Quốc. Theo ông, phương Tây đã không biết phê phán tội ác của Bắc Kinh mà còn tiếp đón các quan chức Trung Quốc với đầy sự tôn trọng trong khi Trung Quốc lại ức hiếp chính dân của mình một cách vô đạo đức như vậy.

Theo RFI

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về phá thai

“Phá thai chính là giết người. Trẻ nhỏ là quà tặng của Thiên Chúa.
Nếu bạn không muốn có nó, hãy giao em bé cho tôi !”
“Sự phá hoại nền hoà bình kinh khủng nhất chính là việc phá thai,vì nếu người mẹ nhẫn tâm giết chính con mình thì bạn cũng có thể giết tôi và tôi có thể giết bạn, vì giữa chúng ta chẳng có mối liên hệ nào”.
“Chính thật là sự nghèo nàn khi quyết định đứa trẻ phải chết để bạn được sống theo ý bạn”

Đừng giết trẻ con vô tội ở Ấn Độ


Phá thai, nếu bây giờ mới nêu lên thì hơi muộn. Nhưng có còn hơn không, ít ra là để nhớ lại và để biết hầu có thể tránh, đặc biết người công giáo chúng ta, Giáo Hội đang cổ võ Pro Life, chống lại pro choice. Ở đây xin được chia sẻ một loại phá thai đặc biệt, gọi là phá thai chọn lựa theo phái tính.

Chúng ta thường nghe phá thai, nhưng ít thấy nói tới phá thai lựa theo phái tính. Ở đâu vậy? Thưa, ở Ấn Độ. Những bào thai nữ sẽ được ưu tiên phá bỏ. Do đó tỷ lệ giửa trẻ nữ và nam ở Ấn Độ -theo như LHQ đã báo động- hiện đang tiếp tục đi xuống.

Dựa theo bản báo cáo của Ủy Ban Tổ Chức Phụ Nữ LHQ đã được xuất bản dưới đầu đề “Tỷ lệ Phái Tính và Lựa Chọn Phái Tính Sai Lầm: Lịch sử, Tranh luận và Đường hướng tương lai”, chúng ta thấy:

Tỷ lệ tính trên 1000 con trai thì có 976 con gái vào năm 1961 giảm xuống còn 927 gái vào năm 2001, rồi xuống còn 918 vào năm 2011.

Dựa theo con số sai biệt lớn như vậy, bản báo cáo ước tính số trẻ chết do phá thai theo phái tính và do bất cẩn nuôi dưỡng sau khi sinh là 10 triệu trong khoảng những năm 1981-2005.

Theo bản kiểm tra năm 2011 với những con số gần đây nhất cho thấy, trong một số bang ở phía Bắc và Tây Ấn Độ là những bang có tỷ số phái tính tệ nhất thì nay đã khá hơn. Tuy nhiên ở những vùng khác, con số trẻ gái lại giảm so với trẻ trai, chứng tỏ số tử vong trẻ nữ trải rộng trên toàn Ấn Độ.


Trong phần Lịch Sử, bản báo cáo cắt nghĩa vào những năm của thập niên 1980, tại một số tình, người ta bắt đầu thử phái tính của bào thai qua kỹ thuật phân tích nước bào thai (amniocentesis testing). Sao đó dựa vào kết quả, những bào thai nữ sẽ bị ưu tiên phá.

Kỹ thuật tân tiến cho phép phá bỏ những bào thai trẻ gái đã làm cho tình trạng đang có từ lâu trở nên trầm trọng hơn. Bản báo cáo cho thấy nhà cầm quyền thuộc địa Anh đã rất xúc động trước tình trạng thiếu săn sóc trẻ em gái và, có những tài liệu cho biết việc giết trẻ con gái đã có từ năm 1789.

Người ta cũng thấy rõ ràng có hiện trạng giết trẻ nữ kéo dài cho tới thời gian gần đây bằng những thủ thuật phá thai. “Thật không có hình ảnh nào ghê gớm hơn - Bản báo cáo bình luận - là hình ảnh ở Ấn Độ người ta đã giết cả hàng triệu trẻ nữ , không cho chúng cất tiếng khóc chào đời”.

Tình trạng kỳ thị nữ giới hiện vẫn còn ở Ấn Độ, ngay cả ở những vùng vào những thời đại mà nền kinh tế xã hội đã phát triển khá. Một trong những yếu tố khiến người ta không thích, ghét có con gái trong gia đình là vì khi lấy chồng thì nhà gái phải trả một món nợ hồi môn đáng kể cho nhà trai.

Nếu cắt nghĩa tình trạng này chỉ dựa theo tập tục trọng nam thì không đúng hoàn toàn. Ở Ấn Độ còn có những phức tạp sai lầm khác liên quan tới sự kỳ thị phái tính hay tổ chức xã hội theo phụ hệ mà bản báo cáo đã nói tới.

Ở Ấn Độ, ngay trong gia đình cũng có sự phân biệt giữa con gái và con dâu và đàn ông, đặc biệt với những ai nghèo và không có việc làm thì lại phải đối diện với những gian nan khó khăn khác như những gia đình có con gái khi phải kiếm chồng cho con mình ở giai cấp xã hội cao hơn.

Thành kiến xấu đối với trẻ nữ không chỉ giới hạn ở việc phá thai lựa theo phái tính. Bình thường tỷ lệ tử vong của trẻ nữ thấp hơn trẻ nam, nhưng ở Ấn Độ cũng như nơi một ít nước trên thế giới, tỷ lệ tử vong trẻ nữ cao hơn nam. Điều đó đặt ra những nghi vấn tại sao?

Chính phủ cũng cấm không cho dùng siêu âm để định phái tính của thai nhi vì cho rằng siêu âm không cho kết quả hoàn toàn chính xác.

Trong một số bang, luật nhà nước cấm mỗi gia đình không được có quá 2 con. Nếu có hơn 2 con sẽ bị phạt và không được hưởng chương trình trợ cấp của chính phủ.

Đó là một vị phạm nhân quyền và khuyến khích phá thai chọn lựa trẻ nữ. “Thực vậy -bản báo cáo cắt nghĩa- trong số những bản xác định phá thai theo phái tính của các bác sĩ, họ đều tin rằng mục đích là để làm giảm thiểu dân số.”


Vi phạm Nhân quyền

Cũng nên đi vào chi tiết là có một số chương trình đưa ra để giúp những trẻ gái thì lại là cơ hội tạo ra tình trạng vi phạm nhân quyền. Chẳng hạn trong nhiều tiểu bang, chương trình giúp tài chánh cho những trẻ gái tiếp tục trả nợ để hoàn thành học vấn. Điều kiện của chương trình lại đòi hỏi là gia đình phải không có con trai và sau khi sinh ra con gái thì người mẹ phải triệt sản.

Sự bất cân xứng giữa số con trai và con gái ở Ấn Độ thì không giới hạn, cũng giống như ở những nước khác, đặc biệt là Tàu. Bản báo cáo cho biết tình trạng trọng nam khinh nữ đang ngày càng lên cao ở một số nước tại Á Châu và Đông Âu.

Kết thúc bản bào cáo, tác giả kêu gọi nên nghiên cứu tình trạng bất ổn này nhiều hơn nữa, đặc biệt về nhiệm vụ của giáo dục, một phần của các bệnh viện/dưỡng đường và bác sĩ nên kiếm ra những kỹ thuật mới, đồng thời giúp cho nữ giới có công ăn việc làm.

Bản báo cáo đã gây chú ý đến vấn đề nghiêm trọng này, nhưng lại đưa ra những vấn nại mà không có giải đáp là trách nhiệm của chính Liên Hiệp Quốc trong việc thúc đẩy kế hoạch hóa gia đình, giảm thiểu số con trong gia đình.

Nhìn vào Việt Nam hiện nay, dù chưa có một nghiên cứu khoa học, đặc biệt và đứng đắn, tình trạng trọng nam khinh nữ chưa thấy rõ nét cho lắm, nhưng hình như cũng bàng bạc giống như Ấn Độ, Tàu cộng và các nước Á Châu, nhất là tình trạng phá thai thì hầu như không còn dè đặt như cách đây nửa thế kỷ khi mà chế độ công sản chưa chính thức được áp đặt trên toàn cõi đất nước. Nhà nước csVN đã công khai cho phá thai là một vấn đề cần phải xem xét lại, khi mà giáo dục gia đình và tôn giáo bị lãng quên và coi thường, khi mà cuộc sống ăn chơi phóng đãng của người dân, nhất là giới trẻ, lại được khuyến khích như là trào lưu văn minh tân tiến thế giới không có đạo lý.


Fleming Island, Florida

Sept. 5, 2014

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh
 
Support : Creating Website |
Copyright © 2009. Bảo Vệ Sự Sống - All Rights Reserved
Thiết kế bởi: Dũng Huy
Mẫu Blogger