14-04-2014

Những bóng hình Âm thầm phục vụ thai nhi bị bỏ rơi


Huế – mới những ngày cuối tháng 3 nhưng tiết trời oi bức như để chuẩn bị cho một mùa hè rực lửa sắp đến trên mảnh đất miền Trung. Vào ngày 30/3/2014 (Chúa Nhật IV Mùa Chay) tôi cùng anh em Đệ Tử Viện Dòng Thánh Tâm được trở “về nguồn”, trở về với vùng đất nằm ẩn khuất trong dãy Ngự Bình trùng điệp. Nơi chúng tôi đến là Nghĩa trang Thai nhi Ngọc Hồ, nơi yên nghỉ của rất nhiều những thai nhi vô tội không được chào đời, nghĩa trang thuộc địa hạt Giáo xứ Ngọc Hồ, Tổng Giáo phận Huế – Thành phố Huế. Đến với vùng đất này giúp tôi có dịp hiểu sâu xa ý nghĩa của sự phục vụ, ý nghĩa của sự sống và thấu hiểu hơn về giá trị đích thực của công việc tưởng chừng như vô nghĩa nhưng trái lại nó lại mang một ý nghĩa vô cùng cao cả: Đó chính là việc chăm sóc và phục vụ nghĩa trang. Điều đặc biệt ở đây mà tôi muốn nói đến là hình ảnh của một người đã dành trọn tâm huyết để lo cho các sinh linh bé nhỏ nhất của sự sống con người có được một chỗ yên nghỉ khi các em bị tước đoạt đi quyền sống.


Chuyến hành trình của chúng tôi được bắt đầu từ sáng sớm, chặng hành trình tuy khá xa nhưng ngay khi ánh nắng đầu tiên của ngày mới ló rạng thì chúng tôi cũng đã về được gần với núi rừng, nơi mà có nghĩa trang chôn cất các thai nhi. Giữa không gian núi đồi rộng lớn, cảnh vật thiên nhiên đang cố vươn mình lên để dành lấy sự sống thì chính nơi đây biết bao sinh linh bé nhỏ nhất của sự sống con người lại bị chôn vùi, các em không được nhìn thấy và cảm nhận cuộc đời này. Khi đến nơi, chúng tôi được sự hướng dẫn của chú Năng – Người mà đã dành tất cả tâm huyết, sức lực để chôn cất cho các hài nhi có chỗ yên nghỉ. Chú đã đưa chúng tôi đến với nghĩa trang thai nhi nằm trên đỉnh đồi của một vùng núi rộng. Hiện ra trước mắt tôi với hàng ngàn ngôi mộ nhỏ bé nằm gọn lỏn trong một không gian núi đồi, cây cỏ.


Qua trò chuyện với chú Năng thì tôi được biết, nghĩa trang thai nhi này chính là mảnh đất thuộc gia đình chú, nhưng chú đã lấy nó làm nơi chôn cất các sinh linh bé nhỏ kém may mắn khi không được cất tiếng khóc chào đời. Chú Năng cùng với gia đình đã dùng mảnh đất này để tôn tạo thành một vùng nghĩa trang và hằng ngày lo chăm sóc và đem các thai nhi vô tội về chôn cất. Với dáng người hao gầy, trạc tuổi tứ tuần, da ngăm đen sạm nắng vì công việc, và mặc cho công việc nhà vất vả của một người trụ cột phải lo lắng trong gia đình, phải nuôi 6 người con ăn học nhưng chú Năng vẫn dành nhiều thời gian cho việc tôn tạo nghĩa trang một cách khang trang, đẹp đẽ.

Chú còn tâm sự thêm rằng: Công việc chăm sóc và bảo vệ nghĩa trang Thai nhi đã được chú thực hiện được hơn 20 năm nay và hiện nay số lượng ngôi mộ thai nhi đã được đem về nơi đây là khoảng 50.000 em. Tuy nhiên, đây mới chỉ là con số nhỏ trong sự thống kê mà chú đã thu nhận về nghĩa trang Thai nhi Ngọc Hồ trong Thành phố này mà thôi. Bên cạnh đó còn biết bao hài nhi vẫn bị tước đoạt sự sống hàng ngày mà không có ai biết đến. Trên khuôn mặt, ánh mắt của chú khi tâm sự với tôi thoáng hàng hiện lên một nỗi buồn khó tả. Dường như tất cả nỗi niềm chú đã và đang dành cho các sinh linh bé bỏng nhất của sự sống con người.

Chú hướng dẫn chúng tôi dọn dẹp và tôn trang lại các ngôi mộ, quét dọn lá cây rừng, tân trang ngôi mộ cho sạch sẽ hơn. Điều mà tôi không khỏi e ngại và lo lắng là diện tích nghĩa trang vẫn được mở rộng thêm. Chính điều này tạo nên một câu hỏi lớn mà buộc lòng chúng ta phải nghĩ tới: Tại sao lại không dừng ở trong chính diện tích khuôn viên nghĩa trang này hầu dừng lại tội ác phá thai để sự sống của con người được bảo tồn và phát triển mà lại mở rộng thêm diện tích của nghĩa trang? Nói đến điều này, chính mỗi người chúng ta đang dần liên tưởng đến sự sống của các thai nhi đang trong tình trạng bị hủy diệt. Diện tích nghĩa trang được mở rộng cũng chính là nói đến tình cảnh và số phận của các em lại phải tiếp tục bị chôn vùi trong mảnh đất này. Đứng trước điều này chúng ta thấy được rằng nhân phẩm và tình thương của một số người làm cha, làm mẹ đã mất đi, họ đã hủy diệt chính mầm sống là máu thịt của mình. Họ có biết cho chăng đáng lẽ các em phải được sinh ra, được lớn lên, được trưởng thành trong nhân cách con người. Thế nhưng, ngay từ trong thai mẫu các em đã phải giã từ cuộc sống này để yên nghỉ trong lòng đất quạnh quẽ ở chốn hoang vu.

Suốt cả buổi lao động trong nghĩa trang này, mặc cho trời nắng và thời tiết oi bức mỗi người chúng tôi vẫn hăng say để sửa lại và làm lại các ngôi mộ thai nhi cho sạch và mới hầu mong an ủi phần nào sự mất mát và kém may mắn nơi số phận của các em. Đây cũng chính là điều mà chú Năng và mọi người yêu chuộng sự sống, tôn trọng quyền sống và có trái tim yêu thương hằng ấp ủ và dành trọn con tim cho sinh linh các thai nhi vô tội. Hành trình trở “về nguồn” của chúng tôi được kết thúc trong ngày nhưng dư âm của chuyến đi vẫn vang vọng mãi trong lòng mỗi người. Những yêu thương, tình cảm của những người ngày đêm lo âu cho sự sống, vẫn không ngừng khắc khoải cho tiếng nói bảo vệ sự sống cho con người.

Trở về nguồn!
Tiếng đời thêm sâu lắng
Cảm nghiệm yêu thương trong chính trái tim mình.

Nguồn: Giesu.net
Đọc tiếp »

13-04-2014

Tôi đi nhặt hài nhi

Tình trạng nạo phá thai đang trở thành vấn nạn với nhiều quốc gia trên thế giới. Những hiểm họa khôn lường và việc làm tàn nhẫn ấy thực sự là một điều nhức nhối trong xã hội hiện đại. Hãy cùng tìm hiểu về vấn đề nạo phá thai qua sự kiện Nạo phá thai của chuyên mục Tình yêu giới tính trên Eva.vn để có thêm những kiến thức giới tính cho riêng mình.

Theo số liệu của Ủy ban Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, mỗi năm Việt Nam có khoảng 1,6 triệu ca sinh, cũng bằng số này là những ca nạo phá thai. Đã có những câu chuyện hết sức đau đớn về việc nạo phá thai, cho thấy cần phải có những quy định nghiêm khắc hơn về tránh thai và kiểm soát nạo phá thai.Những thai nhi từ 9 tuần đến 6 tháng bị vứt bỏ vào sọt rác, bồn rửa tay, thậm chí đổ xuống đất… từ các phòng khám tư nhân. Và những người trẻ thiện nguyện phải đi nhặt nhạnh về chôn cất. Tôi đã theo chân Nguyễn Quế (tự Dũng) – một tay “nhặt” thai nhi “gạo cội” ở thành phố Biên Hòa (Đồng Nai)…Từ “đề pô”…Trước khi đi, Dũng ấn sau lưng tôi cái thùng inox đựng thai nhi rồi cho biết, 3 năm nay cái thùng này đã đựng vài ngàn thai nhi lớn nhỏ. Tôi nghe mà xương sống như… đóng băng!

Quả thật vào thời điểm nhá nhem tối thế này việc đi “nhặt” người chết với tôi chẳng khác nào một cực hình. Tôi chạy xe mà như hồn tiêu phách tán! Sau một hồi lòng vòng từ Biên Hòa đi Dĩ An (Bình Dương), chúng tôi cho xe tấp vào một xóm lao động nghèo. Tại đây, một tủ đông đựng thai nhi được đặt dưới tầng hầm của một nhà nguyện Công giáo. Tại cái “đề pô” này, một vài bạn trẻ đã lãnh nhận công việc đi các phòng khám trong khu vực để “nhặt” thai nhi rồi gửi vào. Cuối tháng, Dũng cho xe đến gom thai nhi rồi đem về Biên Hòa chôn cất. Theo Dũng, anh và linh mục Nguyễn Văn Tịch (Chánh xứ Tây Hải) chở cái tủ đông này đến gởi tại đây để làm nơi giữ thai nhi.“Lần đầu đi lấy thai nhi tại đây, vì chưa biết là nhiều hay ít nên tôi chỉ bỏ túi 2 cái bao xốp. Đến khi lấy mới tá hỏa, 2 cái bao xốp không đựng đủ số thai nhi. Tôi cố nhét cho hết số thai nhi vào bao xốp rồi tất tả chạy đến tiệm tạp hóa mua cái hộp giấy để đựng. Bà chủ tiệm tạp hóa thấy tôi xổ ra lỉnh kỉnh hũ lớn nhỏ bèn hỏi là gì, tôi bịa là hũ đựng thuốc rồi hối hả biến luôn” – Dũng kể. Lần ấy, Dũng mang về gần 40 thai nhi.Một bạn trẻ thấy chúng tôi đến lấy thai nhi bèn vội vã mở cửa phòng giữ tủ đông. Quả thật khi mở tủ đông, nếu không biết người ta sẽ nhầm lẫn đây là những hũ kem đóng băng chứ không phải thai nhi. Những lớp hũ thai nhi lớn, nhỏ được xếp rất gọn gàng. Hai bạn trẻ đi với chúng tôi nhẹ nhàng bê từng hũ thai nhi từ cái tủ đông cho vào thùng inox mang theo 36 mạng người bị chối bỏ!… đến phòng khámNhóm “nhặt” thai nhi của Dũng có khoảng chục bạn trẻ. Nếu như công việc lấy thai nhi của Dũng ở “đề pô” thì các bạn trẻ khác phải đi “nhặt” thai nhi ở các phòng khám tư nhân.

Nguyễn Quế (người đội mũ bảo hiểm) đang chuẩn bị dụng cụ để đi lấy thai nhi ở Bình Dương

Phạm Thị Hương – một bạn trẻ đi “nhặt” thai nhi tại các phòng khám ở thành phố Biên Hòa (Đồng Nai) cho biết: “Những ngày đầu đi xin thai nhi tại các phòng khám oải lắm. Nhân viên phòng khám gần như xua đuổi mình. Thậm chí, họ nghĩ mình lấy thai nhi về làm những chuyện bậy bạ”. Tuy nhiên, “cái ải” khó vượt nhất của các bạn trẻ này là chứng kiến các thai nhi bị chà đạp. “Sau khi nạo phá thai xong, nhân viên phòng khám thường cho thai nhi vào bọc xốp rồi ném vào sọt rác. Có khi, tôi đến phòng khám đã thấy một “đống hổ lốn” thai nhi nằm trong bồn rửa tay, thậm chí bị đổ xuống nền đất” – chị Hương bùi ngùi kể.

Chị Hương cho biết thêm, thai nhi sau khi đưa về sẽ được tắm rửa, cắt nhau, cắt rốn, mặc đồ mới… từ bàn tay của các bạn trẻ đi “nhặt” thai nhi. Có thai nhi khi xổ ra từ mớ nhau, nước ối, gương mặt em vẫn trắng hồng như tươi cười chào đón ngày mới.Tuy nhiên, đối với Phạm Hoàng Quân, ám ảnh nhất là khi chứng kiến những thai nhi 6-7 tháng bị cha mẹ chối bỏ. Quân cho biết vừa “nhặt” được một thai nhi gái 6 tháng tuổi bị phá tại một phòng khám tư nhân ở phường Long Bình (Đồng Nai). “Em hoàn thiện hết rồi, hai cánh tay nhỏ xíu, đôi mắt nhắm nghiền và cái miệng nhỏ xinh xắn… Tội lắm khi thấy em nằm co ro!” – Quân thổ lộ. Chính tay Quân mang em về, rồi tắm rửa, mặc quần áo… để chuẩn bị đưa đi chôn chung với hàng trăm thai nhi khác.
Theo Linh mục Nguyễn Văn Tịch, hiện ông đang có 3 cái “đề pô” giữ thai nhi được bố trí ở Thủ Đức (TP.HCM), Dĩ An (Bình Dương) và Trảng Bom (Đồng Nai). Mỗi tháng số thai nhi được lấy về từ 3 “đề pô” này vào khoảng 100. Cộng với 7 phòng khám tư nhân ở thành phố Biên Hòa, mỗi tháng linh mục Tịch mang về chôn cất khoảng 200 thai nhi.


Trung bình mỗi tháng, Quân “nhặt” 50 thai nhi tại các phòng khám.Được biết, nhóm đang “nhặt” thai nhi tại 7 phòng khám ở thành phố Biên Hòa. Giờ nhân viên các phòng khám này đã ý thức hơn về việc giữ gìn các thai nhi. Sau khi nạo phá thai, họ cho các thai nhi vào hũ chờ các bạn trẻ đến “nhặt” về. Tất nhiên, nhân viên phòng khám chỉ tuồn thai nhi ra ngoài theo một hệ thống bí mật nhất định. Chia sẻ công việc đi “nhặt” thai nhi, chị Nguyễn Thị Mai – một người đi “nhặt” thai nhi tại khu vực huyện Trảng Bom cho biết: “Sau khi nạo phá thai, nhân viên phòng khám cho thai nhi vào hộp xốp rồi đặt vào một góc phòng khám để tôi đến lấy. Thấy tội “các em” quá, sau này tôi mới đưa hũ nhựa để nhân viên phòng khám bỏ thai nhi vào”. Nguyên tắc bỏ và “nhặt” thai nhi là như thế. Không một ai, ngoài người bỏ và “nhặt” thai nhi, biết ở góc phòng ấy luôn có những thai nhi nằm chết cóng!

Anh Nguyễn Ngọc Sơn – một người đi lấy thai nhi ở khu vực thành phố Biên Hòa, thổ lộ: “Tôi biết có một phòng khám bỏ thai nhi nhiều lắm nhưng không xin họ được”. Có lẽ, nhân viên phòng khám không xem những thứ nạo phá xong là người! Hoặc chẳng ai muốn “vạch áo cho người xem lưng”. Chỉ tội cho các thai nhi, thay vì được mở mắt chào đời, nhìn đấng sinh thành lại trở thành rác và bị vứt ở xó xỉnh nào đấy.

Nguồn: Dân Việt
Đọc tiếp »

12-04-2014

Đức Thánh Cha nói về trẻ chưa sinh và người cao niên

Hôm nay, 11 tháng Tư, 2014, nói chuyện với phong trào phò sự sống, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại tình yêu của Giáo Hội đối với sự sống con người, nhấn mạnh rằng cần phải bảo vệ sự sống ấy nhất là ở hai giai đoạn chủ yếu là bắt đầu (trẻ chưa sinh) và kết thúc (người cao niên). Sau đây là nguyên văn lời ngài:

Anh chị em thân mến,

Tôi xin ngỏ lời chào mừng thân ái tới từng anh chị em. Tôi chào mừng Ngài Carlo Casisni và cám ơn ngài về những lời tốt đẹp ngỏ với tôi, nhưng trên hết tôi ngỏ lời cám ơn ngài về tất cả mọi công trình ngài đã thực hiện trong nhiều năm qua trong Phong Trào Phò Sự Sống. Tôi hy vọng rằng khi Chúa gọi ngài, thì chính các trẻ em sẽ ra mở cửa đón ngài vào trên ấy! Tôi xin chào mừng các vị chủ tịch các trung tâm trợ giúp sự sống và những ai có trách nhiệm đối với các dịch vụ khác nhau, đặc biệt là “Dự Án Gemma”, một dự án trong 20 năm qua, dưới một hình thức liên đới đặc biệt cụ thể, đã làm cho việc hạ sinh nhiều trẻ nhỏ trở thành khả thể mà nếu không có nó, thì các em đã không được chào đời. Xin cám ơn anh chị em vì các chứng từ anh em đưa ra để cổ vũ và bênh vực sự sống từ lúc tượng thai!

Tất cả chúng ta đã biết, sự sống con người là thánh thiêng và bất khả xâm phạm. Mọi dân quyền đều hệ ở việc thừa nhận quyền thứ nhất và quyền căn bản là quyền sống, một quyền không phụ thuộc bất cứ điều kiện nào, dù là phẩm chất hay kinh tế, càng không phải là ý thức hệ.

“Điều răn ‘chớ giết người’ đặt ra một giới hạn rõ ràng nhằm bảo vệ giá trị sự sống con người thế nào, thì ngày nay, ta cũng phải nói ‘chớ giết người’ như thế đối với một nền kinh tế loại trừ và bất bình đẳng. Nền kinh tế như thế là nền kinh tế giết chóc… Những con người nhân bản bị coi như hàng hóa tiêu thụ, để dùng rồi vứt bỏ. Chúng ta đã dựng nên một nền văn hóa ‘vứt bỏ’; nền văn hóa này đang lan tràn (Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, 53). Và thế là người ta vứt bỏ cả sự sống.

Một trong các nguy cơ trầm trọng nhất thời nay là việc ly dị giữa kinh tế và luân lý, giữa các khả thể do thị trường cung cấp với mọi mới mẻ kỹ thuật của nó và các qui luật sơ đẳng của bản tính con người, bị lãng quên hơn bao giờ hết. Do đó, ta cần phải xác định sự chống đối mạnh mẽ đối với mọi mưu toan trực tiếp chống lại sự sống, nhất là sự sống vô tội và yếu ớt, và trẻ chưa sinh còn trong bụng mẹ là người vô tội hơn cả. Chúng ta nhớ lại lời của Công Đồng Vatican II: “Do đó, từ giây phút được tượng thai, sự sống phải được bảo vệ với một sự săn sóc lớn nhất vì phá thai và sát nhi là những tội ác không thể nào tả xiết” (Hiến Chuế Vui Mừng và Hy Vọng, 51). Tôi còn nhớ, lâu lắm rồi, tôi có một cuộc hội bàn với các bác sĩ. Sau cuộc hội bàn ấy, tôi đã đến chào thăm họ, việc này xẩy ra lâu lắm rồi. Tôi ngỏ lời chào họ, chuyện trò với họ, và một bác sĩ mời tôi ra một chỗ. Ông có một gói đồ và ông nói với tôi: “Thưa cha, con muốn để lại chiếc gói này cho cha. Đây là những dụng cụ con từng dùng để phá thai. Con đã tìm thấy Chúa, con đã ăn năn, và hiện nay con tranh đấu cho sự sống”. Ông trao cho tôi tất cả những dụng cụ ấy. Anh chị em hãy cầu nguyện cho người đàn ông tốt lành này!

Chứng tá phúc âm này luôn cần được nêu ra cho bất cứ ai là Kitô hữu: để bảo vệ sự sống một cách can đảm và đầy yêu thương trong mọi giai đoạn của nó. Tôi khuyến khích anh chị em luôn luôn làm như thế với một phong thái gần gũi, cận kề: để mọi phụ nữ cảm thấy mình được coi như một con người, được lắng nghe, được tiếp nhận và được hỗ trợ.

Chúng ta đã nói về trẻ em: các em đông biết bao! Nhưng tôi cũng muốn nói về các ông bà, một thành phần khác của sự sống! vì ta cũng phải săn sóc các ông bà nữa, bởi các trẻ em và các ông bà đều là niềm hy vọng của một dân tộc. Các trẻ em, các người trẻ (là hy vọng) vì các em đem họ tiến lên, các em sẽ đem các dân tộc tiến lên phía trước; còn các ông bà (là hy vọng) vì các ngài có sự khôn ngoan của lịch sử, các ngài là ký ức của một dân tộc. Để bảo vệ sự sống giữa thời buổi trẻ em và các bậc ông bà rơi vào nền văn hóa vứt bỏ này và bị coi như đồ vật để phế thải. Không! Trẻ em và các ông bà là hy vọng của một dân tộc!

Anh chị em thân mến, ký ức về người mẹ lập tức xuất hiện trong tâm trí chúng ta. Chúng ta hãy hướng về Mẹ chúng ta; xin ngài che chở tất cả chúng ta. Kính mừng Maria…

Hai phép lạ bảo vệ sự sống và gia đình

Trong khi ấy, trước lễ phong hiển thánh cho Đức Gioan Phaolô II, cha Slawomir Oder, thỉnh nguyện viên án phong thánh cho ngài, lên tiếng nhấn mạnh tới sự quan tâm đặc biệt của ngài đối với sự sống và gia đình.

Cha cho hay: Đức Gioan Phaolô II muốn được tưởng niệm vì các chủ đề gần gũi với cuộc sống hàng ngày của người ta. Cha nói: “Suốt nhiều năm dài trong triều giáo hoàng của ngài, ngài đã đề cập tới nhiều chủ đề, nhiều vấn đề. Tuy nhiên, chính ngài nói rằng nếu có lúc nào Giáo Hội tưởng nhớ tới ngài, thì ngài thích được tưởng nhớ như vị Giáo Hoàng của sự sống và của gia đình”.

Thực vậy, hai phép lạ dọn đường cho việc phong chân phước và phong hiển thánh cho ngài đều liên quan tới sự sống và gia đình.

Về án phong chân phước, một nữ tu người Pháp là Dì Marie Simon-Pierre, vốn làm việc tại một trung tâm sinh nở, đã nhờ lời cầu bầu của Đức Gioan Phaolô II mà khỏi bệnh Parkinson.

Còn về án phong hiển thánh, phép lạ được gán cho ngài là việc chữa lành bà Floribeth Mora, người vốn cầu nguyện để chồng bà, con cái và các cháu không mất vợ, mẹ và bà.

Ngoài ra, cha Oder còn cho hay: đa số thư từ mà cha nhận được đều cám ơn Đức Gioan Phaolô II vì nhờ lời cầu bầu của ngài mà các cặp vợ chồng đã làm hòa trở lại, sinh con sinh cái. Cha bảo: “Sau tang lễ của Đức Gioan Phaolô II, nhiều gia đình được ơn sinh con cái. Họ bèn lấy tên ngài đặt tên cho đứa trẻ như Charles, Carolina, Gioan hay Giaon Phaolô, rất nhiều trường hợp như thế.

Cha nhớ trường hợp một cặp vợ chồng Đức viết thư nói về hồng ân của họ. Họ bị khủng hoảng gia đình nhưng sau đó vượt qua được cơn khủng hoảng này nhờ nghe bài giáo lý của Đức Gioan Phaolô II về gia đình. Nhất là loạt bài giáo lý của ngài tựa là “Chúa dựng nên họ có nam có nữ” về thần học thân xác.

Nhân dịp lễ phong hiển thánh sắp tới, cha Oder phân phối hàng ngàn tấm hình của Đức Gioan Phaolô II. Một số tấm hình này có chứa mảnh vải nhỏ từ chiếc áo chùng của ngài, để số đông người có thể có được một chút gì đó của vị giáo hoàng mà họ biết nhiều hơn cả trong suốt đời họ.

Vũ Văn An

Nguồn: vietcatholic.net
Đọc tiếp »

11-04-2014

Phục vụ sự sống: sứ mạng của giới y - bác sỹ Công giáo

Lm. Đaminh Nguyễn Tuấn Anh
Bài thuyết trình cho giới y chức của giáo phận Xuân Lộc
nhân dịp Tĩnh tâm mùa Chay, ngày 16-03-2014


Dẫn nhập

Sáng 20-9-2013, ĐTC Phanxicô đã tiếp kiến 100 bác sĩ sản khoa tham dự Hội nghị lần thứ 10 của Liên hiệp quốc tế các hiệp hội bác sĩ Công Giáo với chủ đề bác sĩ Công Giáo và việc săn sóc người mẹ. Trong buổi tiếp kiến này, ĐTC đã nhận định về thực trạng nhiều mâu thuẫn của nghành y hiện nay:



“Trong nghề y khoa hiện nay, một đàng có sự hăng say tìm kiếm những tiến bộ trong việc trị bệnh, nhưng đàng khác người ta thấy có nguy cơ bác sĩ đánh mất căn tính của mình là người phục vụ sự sống, và nhiều khi không tôn trọng chính sự sống. Người ta cũng thấy tình trạng mâu thuẫn này qua hiện tượng: trong khi người ta gán cho con người những quyền mới, nhiều khi chỉ là quyền giả tạo, thì họ lại không luôn bảo vệ sự sống như giá trị đầu tiên và là quyền tiên quyết của mỗi người.”[i]

Sau đó, Đức thánh cha nhắc lại rằng “mục tiêu tối hậu của hoạt động y khoa vẫn luôn là bảo vệ sự thăng tiến sự sống”, trong đó các bác sĩ công giáo có sứ mạng sống chứng tá Tin mừng bằng việc dấn thân bảo vệ sự sống.

Được gợi hứng từ bài nói chuyện của Đúc Thánh Cha, tôi xin có vài điều chia sẻ với cộng đoàn về đề tài: Y-Bác sĩ công giáo và sứ mạng bảo vệ sự sống, qua ba ý chính: 1/ Sự sống con người theo quan điểm kito giáo; 2/ sứ mạng của nghành y nói chung trong việc bảo vệ sự sống; 3/ và cuối cùng là sứ mạng bảo vệ và thăng tiến sự sống của các nhân viên Công giáo trong nghành y tế.


1. Sự sống con người theo quan điểm Kitô giáo[ii]

Sự sống con người có giá trị đặc biệt cho cả người có niềm tin cũng như không có niềm tin. Thông thường ai cũng yêu quý và bảo vệ mạng sống mình. Tuy nhiên, quan niệm khác nhau về sự sống dẫn đến cách hành xử khác nhau. Ẩn giấu sau những mâu thuẫn được Đức Thánh cha nhắc đến là những quan niệm khác nhau về sự sống. Quan niệm duy vật đánh mất chiều kích siêu việt của con người, giam hãm con người trong khung trời vật chất và giới hạn sự sống con người trong sự sống thể lý, sự sống ở đời này. Khi đó, tiêu chuẩn đánh giá con người không dựa trên điều “họ là” nhưng trên điều “họ có”, nghiã là dựa trên hiệu quả công việc, tài năng và tài sản... Như thế những người nghèo, tật nguyền, già cả có nguy cơ bị loại ra bên ngoài. Có quan niệm hạ giá sự sống con người thành một thiện ích trong những thiện ích khác, ngang hàng với an sinh xã hội, của cải, thú vui giải trí…

Đối với niềm tin công giáo, chúng ta khẳng định rằng Thiên Chúa tạo dựng con người và vạn vật. Ngài tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài để nó sống mãi và sống hạnh phúc với Ngài. (x. Kn 1,13-14; 2,23-24).

a. Sự sống là một hồng ân của Thiên Chúa

Trong Thánh Kinh, sự sống con người xuất hiện như chóp đỉnh của công trình tạo dựng (x. St 1,26). Nó nhận được sự chúc lành của Thiên Chúa và trổi vượt trên mọi hình thức khác của sự sống (x. St 1,28). Sự sống này không chỉ giới hạn nơi sự tồn tại thể lý, nhưng còn trải rộng đến mọi chiều kích của cuộc sống. Tuy nhiên, ta không được coi sự sống là một giá trị tuyệt đối, tối thượng mà phải đặt nó trong sự phục vụ Thiên Chúa và tha nhân.[iii] Sự sống trần gian chỉ là một hình bóng, một sự chuẩn bị cho sự sống đích thực và dồi dào (x. Ga 10,10) mà Đức Kitô mang lại cho con người. Nếu sự sống tự nhiên là một ân huệ cao quý Chúa ban cho con người thì sự sống vĩnh cửu còn cao quý hơn nữa (x. Rm 6,11; C1 3,3). Thái độ của con người trước hồng ân này là đón nhận với lòng biết ơn và trân trọng ; đồng thời khám phá và tìm cách thực hiện chương trình Thiên Chúa muốn cho mỗi người (x. Ga 3,16).

b. Sự sống là một điều thánh thiêng

Sự sống là một điều thánh thiêng bởi vì nó phát xuất từ Thiên Chúa. Theo Thánh Kinh, sự sống trước hết là chính Thiên Chúa, vì Người là Thiên Chúa hằng sống[iv]. Tiếp đến, sự sống chính là phẩm tính riêng biệt của Thiên Chúa (x. Ga 5,26; 14,6) và Ngài thông truyền nó cho con người (x. St 2,7; Đnl 6,24; Ga 3,35; 5,26). Khác với các thụ tạo khác, con người tham dự vào sự sống của Thiên Chúa một cách đặc biệt: con người là hình ảnh của Thiên Chúa hằng sống, được tạo dựng để trở nên giống Đấng Tạo Hóa. Vì thế, sự sống mà họ mang trong mình là một thực tại thánh thiêng và bất khả xâm phạm. Làm tổn hại sự sống con người là xúc phạm đến chính Thiên Chúa ; và ngược lại bảo vệ và thăng tiến sự sống là tôn vinh Thiên Chúa.[v] Thánh giáo phụ Iréné xác quyết : « Vinh quang Thiên Chúa là con người sống động » (la gloire de Dieu, c’est l’homme vivant).


c. Chỉ có Thiên Chúa mới là chủ tể của sự sống

Tính thánh thiêng và bất khả xâm phạm của con người còn phát xuất từ việc chỉ Thiên Chúa mới là chủ tể duy nhất của sự sống và sự sống con người phản ánh tính thánh thiêng và bất khả xâm phạm của chính Thiên Chúa. « Duy chỉ Thiên Chúa là chủ tể sự sống từ khi nó bắt đầu cho đến lúc nó kết thúc, nên không ai trong bất cứ trường hợp nào có thể đòi cho mình quyền trực tiếp hủy diệt một con người vô tội ».[vi] Tuy nhiên, vì con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, nên cũng được Ngài mời gọi và cho tham dự quyền chủ tể của Ngài đối với sự sống : « Thiên Chúa đã chúc lành cho họ và bảo họ rằng: hãy sinh sôi nảy nở đầy dẫy trên mặt đất và bá chủ nó! Hãy cai trị trên cá biển chim trời và mọi loài sinh vật bò trên đất » (St 1,28). Con người được cộng tác với Thiên Chúa trong việc cai quản vạn vật và phục vụ sự sống được ban cho chính mình.

d. Sự sống con người phải được tôn trọng ngay từ lúc thụ thai cho đến khi chết.

Ngay từ giây phút bắt đầu hiện hữu, con người phải được đối xử như một con người và được kẻ khác nhìn nhận các quyền làm người, trong đó có quyền được sống là quyền bất khả xâm phạm của người vô tội.[vii]

Sự sống con người, từ khởi đầu cho đến khi kết thúc, có thể nói là điều thiện hảo lớn nhất trên trần gian. Đón nhận, bảo vệ, và chăm sóc và chữa trị sự sống con người, nhất là sự sống thể lý, là sứ mạng cao quý, là mục tiêu tối hậu của nghành y.



2. Sứ mạng của nghành y: phục vụ và thăng tiến sự sống

ĐTC nói: ”Giáo Hội kêu gọi lương tâm của mọi người chuyên nghiệp và thiện nguyện trong y khoa, đặc biệt là các bác sĩ sản khoa, hãy cộng tác vào việc sinh sản những sự sống mới. Não trạng duy lợi ích hiện nay, thứ văn hóa ”xài rồi bỏ”, đang nô lệ hóa tâm trí nhiều người, đang tạo nên một thiệt hại lớn: nó đòi phải loại bỏ con người, nhất là những người yếu thế về mặt thể lý và xã hội. Câu trả lời của chúng ta cho não trạng này là quyết liệt, không chút do dự, trong việc bênh vực sự sống. Quyền đầu tiên của con người là quyền sống.”



a. Đón nhận và bảo vệ sự sống

ĐTC mời gọi các bác sĩ cộng tác vào việc sinh sản những sự sống mới. Ngày hôm nay, những tiến bộ vượt bậc trong lãnh vực y khoa mang lại nhiều cơ hội cho các cặp vợ chồng hiếm muộn và cho phép việc chăm sóc các thai nhi được tốt hơn. Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh giảm đáng kể, sức khoẻ của các bà mẹ được cải thiện. Tuy nhiên một thực tế khác khiến chúng ta phải giật mình là tỉ lệ phá thai gia tăng với nhiều nguyên do khác nhau: ưu sinh, đạo đức (bảo toàn danh dự), trị liệu, thí nghiệm… Sự hỗ trợ hữu hiệu của y khoa trong việc chẩn đoán tình trạng của thai nhi có thể trở thành bản án tử hình, quyết định vĩnh viễn số phận của thai nhi. Thay vì nhắm đến bảo vệ và thăng tiến sự sống, thì trong trường hợp này, y khoa lại phục vụ cho việc giết chết sự sống, nhất là sự sống của những thai nhi vô tội.[viii]

Giáo hội luôn lên tiếng bảo vệ quyền đầu tiên của con người là sống và chống lại việc phá thai. Các kito hữu làm việc trong lãnh vực y khoa, được mời gọi cách đặc biệt, cùng với GH dấn thân bảo vệ quyền sống của các thai nhi và chống lại hình thức giết người êm dịu. Quả là một thách đố cho các y bác sĩ Công giáo làm việc trong các bệnh viện tiến hành phá thai. Luân lý kito giáo không cho phép họ tham gia, cộng tác vào tội ác này.


b. Trong việc chăm sóc sức khoẻ và việc trị liệu

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có chia sẻ rằng: “Nghề y không thể coi là một ngành kinh doanh, một mũi nhọn kinh tế, vì nếu như thế người ta sẽ nghĩ đến việc khai thác tối đa lợi nhuận trên sức khỏe con người! Người thầy thuốc thường mất ăn mất ngủ trước một ca bệnh lý, thường bứt rứt ăn năn dài lâu trước một lỡ lầm đôi khi không sao tránh khỏi trong lúc hành nghề! Xã hội cần tôn trọng và đánh giá đúng sự đóng góp của người thầy thuốc để giúp họ sống xứng đáng với vai trò, chức năng mà xã hội đã giao phó.”[ix]

Sứ mạng cao quý và nền tảng của Bác sĩ là phục vụ bệnh nhân để cứu sống, để duy trì hoặc phục hồi sức khoẻ cho bệnh nhân. Giáo hội đánh giá rất cao vai trò và sự đóng góp của nghành y trong việc phục vụ sự sống con người; đồng thời bày tỏ quan điểm, đưa ra những định hướng, nhất là nhấn mạnh chiều kích nhân bản để nghành y thực hiện đúng ơn gọi của mình.

- Nhân bản hoá các mối liên hệ giữ bệnh nhân và tập thể những người có trách nhiệm giúp họ phục hồi sức khoẻ. Đó phải là mối tương quan nhân vị giữa bác sĩ với “người bệnh” chứ không phải là với “con bệnh”. Các bác sĩ chân chính là người biết ưu tiên quan tâm đến quyền lợi của bệnh nhân và làm hết sức mình để cứu chữa bệnh nhân theo khả năng chuyên môn của mình. Ông còn phải làm những gì có lý mà bệnh nhân yêu cầu ông làm. Bởi đó, trước tiên bác sĩ có bổn phận phải nắm chắc các ước nguyện của bệnh nhân hay của những người đại diện bệnh nhân.

- Nhân bản hoá các sinh hoạt và các dịch vị y tế nhằm chăm sóc sức khoẻ và và cứu chữa bệnh nhân. Các nhân viên nghành y không được lạm dụng kỹ thuật bằng cách biến bệnh nhân thành phương tiện nghiên cứu và cũng không được điều trị bệnh nhân bằng mọi giá, bất chấp ý muốn của họ. Các y, bác sĩ không được phép gây hại các bệnh nhân do những động cơ chính trị hay do lợi lộc nào đó và cũng không được can thiệp một cách thô bạo sự sống con người.

Các bác sĩ và y tá có bổn phận không những phải chữa lành và giảm bớt sự đau đớn, mà còn phải kéo dài sự sống bao lâu có thể’. (tr. 238) Tuy nhiên, trong trường hợp việc kéo dài sự sống là kéo dài sự đau khổ một cách vô vọng, bác sĩ có thể đề nghị ngưng việc chữa trị và ngừng sử dụng các thiết bị. Dĩ nhiên, ta cũng phải tôn trọng và thực hiện những ước nguyện hợp lý của bệnh nhân trong việc sử dụng các phương pháp điều trị nhằm kéo dài sự sống.

- Nhiệm vụ của bác sĩ là cứu sống, là chữa lành, là làm giảm bớt sự đau khổ. Để chu toàn sứ mạng của mình, thầy thuốc/bác sĩ cần cập nhật hóa những kiến thức của mình vì ‘nền y học hiện đại cùng với những khả năng và đòi hỏi gia tăng không ngừng đòi các thầy thuốc ngày phải chuyên môn hơn. Không phải bác sĩ nào cũng chuyên môn như nhau trong hết mọi lãnh vực của y học. Thế nên ý thức giới hạn của mình, họ sẽ tìm sự giúp đỡ của các thầy thuốc khác mỗi khi tình trạng của bệnh nhân đòi hỏi thế.



3. Sứ mạng của bác sĩ Công giáo: chứng nhân và người phân phát nền văn hoá sự sống [x]

Ngoài những đức tính cần thiết mà y đức đòi hỏi và giáo huấn Hội thánh yêu cầu, các bác sĩ công giáo còn được mời gọi chiêm nhắm và thể hiện hai dung mạo gợi hứng từ Kinh thánh như sau:

- Khi phục vụ bệnh nhân, các bác sĩ công giáo được mời gọi để khám phá hình ảnh Đức Kito đau khổ nơi các bệnh nhân của mình (Mt 25,31-46). Khi phục vụ những người khổ đau, bệnh tật và đụng chạm đến nỗi đau của con người, họ đang phục vụ chính Đức Kitô.

- Khi chăm sóc và chữa lành những người bệnh, họ còn thể hiện dung mạo Đức Kito, Đấng chữa lành những người đau bệnh tật nguyền.

Chiều kích thiêng liêng này thúc đẩy anh chị em công giáo làm việc trong nghành y dấn thân cách hăng hái và quyết liệt hơn trong việc bảo vệ và cổ võ nền “văn minh sự sống” dù đôi khi anh chị em phải chấp nhận “lội ngược dòng”. Môi trường làm việc của anh chị em có nhiều thách đố nhưng cũng đầy hứa hẹn cho việc loan báo Tin mừng tình thương của Chúa.



Kết luận

Xin mượn lời ĐTC trong buổi tiếp kiến các Bác sĩ ngày 20-3-2014 để kết luận bài chia sẻ này:

“Các bạn bác sĩ thân mến, là những người được kêu gọi săn sóc sự sống con người trong giai đoạn đầu tiên, xin các bạn hãy nhắc nhở cho tất cả mọi người, bằng việc làm và lời nói, rằng sự sống luôn luôn là thánh thiêng trong mọi giai đoạn và mọi lứa tuổi và luôn luôn có chất lượng. Đây không phải là một xác tín đức tin, nhưng còn là của lý trí và khoa học! Không có sự sống con người nào thánh thiêng hơn sự sống khác, cũng như không có một sự sống con người nào có ý nghĩa hơn về phẩm chất hơn sự sống khác. Uy tín của một hệ thống y tế không phải chỉ được đo lường bằng hiệu năng, nhưng nhất là bằng sự quan tâm và yêu thương đối với con người, sự sống của họ luôn có tính chất thánh thiêng và bất khả xâm phạm”.

Các bác sĩ hãy sống và hoạt động phù hợp với ơn gọi Kitô. Đối với nền văn hóa ngày nay, hãy góp phần giúp người khác nhận ra chiều kích siêu việt, dấu vết công trình sáng tạo của Thiên Chúa trong sự sống con người, ngay từ lúc đầu tiên sau khi được hoài thai. Sự dấn thân tái truyền giảng Tin Mừng như thế nhiều khi đòi tín hữu phải đi ngược dòng, trả giá bằng chính con người của mình. Chúa đang hy vọng nơi anh chị em để phổ biến Tin Mừng sự sống”.[xi]

Cầu chúc các y bác sĩ Công giáo luôn tự hào và sống xứng đáng với nghề y cao cả mà mình đã chọn lựa, theo tinh thần mà Chúa và Giáo hội mời gọi.


[i] Xem: http://vi.radiovaticana.va/news/2013/09/20/đức_thánh_cha_tố_giác_mâu_thuẫn_trong_y_khoa/vie-730345

[ii] x. ĐGM Matthêô NGUYỄN VĂN KHÔI, Luân lý kitô giáo qua mười Điều răn, quyển 2, Nhà xuất bản Tôn giáo, 2013, trang 111-116

[iii] « Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu » (Ga 15,13).

[iv] x. Gs 3,10; 1Sm 19,6; 1V 18,10.15; Tv 42,3; Đn 6,21


[v] GIOAN PHAOLO II, Evangelium vitae, số 57 : Sự sống là điều thánh thiêng, là hồng ân Thiên Chúa ban cho con người để họ gìn giữ và phát huy. Do đó bất cứ hành động nào của con người khiến cho sự sống của chính mình hay của tha nhân bị giảm suy hay hủy diệt đều là những tội ác chống lại sự sống.


[vi] THÁNH BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Huấn thị Donum vitae, phần dẫn nhập, số 5.


[vii] GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO, số 2270

GLCG số 2322: Như thế, trực tiếp phá thai, như là mục đích hay phương tiện, đều là một hành vi vi phạm nghiêm trọng luật luân lý vì là tội giết người. Vì thế, Hội thánh ra vạ tuyệt thông cho hành vi này.


[viii] Theo báo Phụ Nữ ngày 16.8 và 24.10.2000 thì tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1998 có 138.222 ca phá thai, trong đó có 1.240 ca dưới 18 tuổi; năm 1999 có 131.653 ca phá thai, trong đó có 1.179 ca dưới 18 tuổi.


Theo số liệu được Thạc sĩ-Bác sỹ Lê Quang Thanh, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ công bố tại một hội thảo “Ngừa thai hormone - Hiểu biết nhu cầu và lựa chọn của phụ nữ” diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/3/2013, trung bình mỗi năm nước ta có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15 - 19, trong đó 60-70% là học sinh, sinh viên. Hiện Việt Nam vẫn là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á và xếp thứ 5 thế giới. (x. http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/121505/giat-minh-nhung-con-so-nao-pha-thai-o-gioi-tre.html)


[ix] Bs ĐỖ HỒNG NGỌC, Nghĩ về người thầy thuốc, Tuổi trẻ ngày 27/02/2008. http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/244693/nghi-ve-nguoi-thay-thuoc.html


[x] DIONIGI TETTAMANZI và GUY DURAND, Nuova Bioetica cristiana (Tân đạo đức sinh học, ấn bản việt ngữ do Lm Anton Nguyễn văn Tuyến biên soạn, Đại chủng viện Huế, 2013, trang 393-402.


[xi] http://vi.radiovaticana.va/news/2013/09/20/đức_thánh_cha_tố_giác_mâu_thuẫn_trong_y_khoa/ vie-730345


Nguồn: catechesis.net
Đọc tiếp »

08-04-2014

Báo chí hay... báo hại?

Thông tin là một trong những điều thiết yếu của cuộc sống, nó thường là nguyên nhân của một sự thay đổi mạnh mẽ nào đó trong cuộc sống của con người, thay đổi tích cực hay thay đổi tiêu cực còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng một trong các yếu tố đó là phẩm chất của thông tin.

Trên Facebook của một người bạn đã từng viết đại khái thế này: Thật bất nhẫn khi đưa các hình ảnh của những nạn nhân bị hiếp dâm hay những con người có phận đời khốn khổ mà chả cần biết những người ấy có muốn được “nổi tiếng”, muốn được lên báo hay không. Trong một chừng mực nào đó, báo chí, truyền hình phải lột tả được sự chân thực, tuy nhiên trong cái chân thực ấy nhiều khi bị lạm dụng, bị bóp méo, thậm chí là cả một sự giả dối đáng khinh bỉ, điển hình như vụ cãi vã, kiện cáo lùm xùm trong chương trình “Như chưa từng có cuộc chia ly” mới đây. Tin tức bây giờ dường như là tin để… tức, vì người nhận tin bị xỏ mũi nhiều hơn là để thu thập những thông tin hữu ích. Do đó, nhiều khi báo chí lại trở thành… báo hại, xem xong thêm bực mình!

Thêm một điển hình nữa như đường link dưới đây:

http://giadinh.net.vn/nuoi-day-con/6-lam-tuong-ngo-ngan-ve-pha-thai-20140317085311297.htm.

Đường link trên được dẫn từ một bài báo không ghi rõ tên tác giả, lại nằm trong mục nuôi dạy con của báo giadinh.net đăng ngày 22.3.2014. Nội dung của bài “báo hại” trên nhằm đả phá 6 vấn đề lâu nay vẫn được coi là những sai lầm ngớ ngẩn từ chuyện nạo phá thai nơi người phụ nữ như sau:
  • Phá thai là nguyên nhân gây ung thu vú
  • Phá thai sẽ dẫn tới hậu quả vô sinh
  • Hầu hết đều hối tiếc sau khi phá thai
  • Khi nhìn thấy hình ảnh siêu âm thai nhi, sẽ không muốn phá thai nữa.
  • Phá thai gây tổn hại tâm lý
  • Phá thai gây nguy hiểm cho sức khỏe và cuộc sống
Ý kiến của phóng viên nào đó còn ngụ ý rằng: Các phụ nữ có quan điểm đi ngược lại với nội dung bài viết thì là ngớ ngẩn, thậm chí là sai lầm oan uổng! Tác giả bài “báo hại” này còn nguỵ biện rằng viết như thế không nhằm khuyến khích phá thai.

Và rồi như thể muốn tránh né trách nhiệm, sợ bị búa rìu của độc giả, ra cái điều áy náy lương tâm, tác giả bèn thòng thêm một câu: ấy là chỉ muốn xét trên quan điểm khoa học mà thôi, sau đó là viện dẫn các chỉ số thống kê, các hội thần kinh tận đâu bên Mỹ, nhưng lại chẳng đưa ra được đường link nào để độc giả kiểm chứng.


Biển quảng cáo dịch vụ phá thai. Ảnh dantri

Thật là độc ác và vô lương tâm, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội Việt Nam hôm nay. Trước khi đi vào 6 vấn đề trên, chúng ta hãy xét cụm từ “Phá thai an toàn và hợp pháp”. Làm gì có khái niệm phá thai hợp pháp? Nếu chính bản thân luật pháp hiện hành đã không phù hợp với luân lý tự nhiên của con người thì không thể bảo một chuyện nào đấy có hợp pháp hay không.

Vấn đề nằm ở chỗ cái gọi là luật pháp bây giờ đâu có công nhận thai nhi là một con người, chứ nếu như đã coi thai nhi là một con người thì luật pháp nào lại cho phép giết người ? Chẳng qua những người làm luật của Việt Nam ta đã cưỡng chế luật nhằm hợp thức hóa tội ác phá thai mà thôi. Bên cạnh đó, người ta bày ra những mỹ từ nhằm đánh lạc hướng hiểu biết của xã hội, phủi tay chối quanh về hành vi giết người kinh khủng như: tầm soát, sàng lọc trước sinh, kế hoạch hóa gia đình, điều hòa kinh nguyệt, chấm dứt thai kỳ…

Có hợp pháp không khi mà bất cứ ai cũng có thể phá thai dễ như đi mua bó rau ngoài chợ, vài ngày nữa là sinh rồi mà cũng phá, sứt môi là phá, không thích trai hoặc gái là phá, con thứ ba là phá… kiểu gì cũng phá. Thậm chí các y bác sĩ thiếu lương tâm còn mắng nhiếc nặng lời, ép các thai phụ phải phá, thuyết dụ phá bằng các lý lẽ rất ư là nhân đạo, khuyến khích phá vì lợi ích của gia đình và xã hội, và bỉ ổi hơn nữa, còn lừa cả thai phụ để phá cho bằng được, mong đạt chỉ tiêu, thành tích khen thưởng.

Rõ ràng có cả dãy phố phá thai sầm uất, một loạt cửa hàng dịch vụ phá thai san sát nhau, nhiều bài báo chụp hình tố giác, vậy mà chả có phòng khám nào bị pháp luật sờ gáy ! Nhiều thai nhi đã bị giết một cách vô tội vạ như thế, vứt xác lung tung như thế, nhiều cô gái vị thành niên đi phá thai như thế, nhưng có điều luật nào để bảo vệ các thai nhi đâu !

Còn chuyện rêu rao phá thai an toàn ư? Chưa biết người mẹ sống hay chết, tổn thương thế nào sau khi phá thai, di chứng về thể lý, tâm lý và tâm linh lâu dài ra sao, còn thai nhi thì đã chắc chắn bị giết chết ngay rồi, vậy khái niệm an toàn ở đâu khi phải trả giá bằng sinh mạng oan nghiệt?

Xét cho cùng khái niệm phá thai an toàn và hợp pháp thực chất là một lời xảo biện dối trá, tàn bạo, vô đạo đức!

Đó là bàn về khái niệm, còn giờ chúng ta thử tìm hiểu sâu hơn một chút về 6 điều bị cho là “ngớ ngẩn” bài báo đã nêu ra.

Phá thai gây ra ung thư vú: Tác giả bài báo cho rằng: không có một bằng chứng y khoa nào đáng tin về chuyện phá thai lại có liên quan đến ung thư vú. Tuy nhiên, chúng ta hãy thử tìm trên Google với từ khóa bằng tiếng Việt: “phá thai và ung thư vú”, sẽ có ngay rất nhiều bằng chứng cho thấy phá thai làm tăng tỷ lệ ung thư vú gấp 2 lần. Đặc biệt là phá thai bằng thuốc thì tỷ lệ ung thư vú rất cao. Ai cũng biết rằng ung thư là do các tác nhân nào đó ảnh hưởng đến cơ thể, làm sai lệch quá trình sao chép các gien. Vậy với các loại thuốc phá thai cực mạnh như hiện nay thì ai dám đảm bảo rằng những thay đổi nội tiết đột ngột không dẫn tới một loại ung thư nào đó, kể cả ung thư vú?

Phá thai dẫn đến vô sinh: Tác giả bảo đây là trò nói dối của phía Phò Sự Sống (Pro-Life) để doạ những ai dám phá thai. Nhưng nếu chúng ta tra Google với cụm từ “phá thai và vô sinh” chúng ta sẽ có khoảng 1.590.000 kết quả trong vòng 0.37 giây, những bằng chứng hết sức thuyết phục về vấn đề này. Dĩ nhiên, không phải ai phá thai cũng dẫn đến vô sinh nhưng khả năng vô sinh đối với người từng phá thai sẽ rất lớn. Ngoài việc có thể dẫn đến vô sinh, người phụ nữ sau khi phá thai còn dễ bị trầm cảm, bản năng làm mẹ bị ảnh hưởng do những sang chấn tâm lý, đau khổ mặc cảm…

Hầu hết đều hối tiếc sau khi phá thai: Tác giả bài báo khẳng định ngon lành rằng: 90% phụ nữ sau khi phá thai cảm thấy nhẹ nhàng, được giải thoát, và có đến 80% thai phụ cho rằng phá thai là quyết định đúng đắn. Xin thưa ngay rằng: tác giả đang xúc phạm nặng nề đến đạo đức và phẩm giá của người phụ nữ. Chẳng lẽ có đến 90% phụ nữ lòng chai dạ đá, lì lợm về cảm xúc, chẳng còn chút lương tâm nào, sống ích kỷ vô luân, đã tự giết chết mất bản năng làm mẹ, không còn biết dày vò ân hận khi đành đoạn giết chết chính đứa con vô tội quá bé bỏng của mình hay sao?

Khi nhìn thấy hình ảnh siêu âm của thai nhi, sẽ không muốn phá thai nữa: Tác giả cho biết có một nghiên cứu nọ chỉ ra rằng 98,4% phụ nữ vẫn phá thai khi nhìn thấy hình ảnh siêu âm của thai nhi! Trong thực tế chúng ta thấy nhiều thai phụ không muốn phá thai nhưng sau khi siêu âm lại cắn răng xin được phá thai chỉ vì họ đã bị các y bác sĩ lừa gạt, dọa nạt rằng thai nhi đa dị tật, có nguy cơ cao bị hội chứng down… Và không ít trường hợp sai lỗi do máy móc siêu âm quá cũ hoặc trình độ đọc kết quả siêu âm chẩn đoán hình ảnh quá tệ hại. Bác sĩ nói thế thì biết thế, làm sao bây giờ? Ở các nước tiên tiến, Bỉ chẳng hạn, có ai đó muốn phá thai, bác sĩ sẽ rất khéo léo khơi gợi bản năng làm mẹ bằng cách cho họ xem hình ảnh của thai nhi lớn lên từng ngày, nghe được cả nhịp tim… Họ mô tả đứa bé sẽ dễ thương thế nào, bụ bẫm ra sao, tuần tới sẽ phát triển thế nào, và họ sẽ tiếp tục làm như vậy với người mẹ cho đến khi thai nhi quá 12 tuần tuổi để lúc đó chẳng ai dám sát hại đến thai nhi đó nữa vì sẽ bị pháp luật trừng phạt.

Phá thai gây tổn hại tâm lý: Bài “báo hại” dám khẳng định rằng không hề có bằng chứng nào gọi là “Hội chứng căng thẳng sau phá thai” và còn cho đó là một lời đồn, một lời đe dọa chứ làm gì có chuyện tổn hại tâm lý sau khi phá thai ! Thật là một lý lẽ vô trách nhiệm và độc ác không thể tưởng tượng nổi. Một lần nữa hãy kiểm tra trên Google với bất cứ cụm từ nào có liên quan đến hai chữ phá thai. Mặt khác, xin mời những ai còn chưa tin hãy làm một chuyến viếng thăm các nghĩa trang đồng nhi hiện nay có rất nhiều trên toàn quốc. Chúng ta sẽ được nhìn tận mắt các dãy mộ đều tăm tắp, sờ tận tay những tấm bia mộ bằng đá lạnh ngắt, tai nghe mắt nhìn những tâm sự của nhiều bà mẹ khốn khổ tâm sự vì đã trót dại dột phá thai…

Phá thai gây nguy hiểm cho sức khỏe và cuộc sống: Tác giả bài viết dám mạnh miệng tuyên bố rằng: phe Phò Sự Sống đã nói dối khi bảo phá thai rất đau đớn, rất có hại và có thể gây chết người ! Sự thật là gì ? Hàng năm có biết bao nhiêu phụ nữ đã chết ngay trên bàn nạo phá thai: mỗi phút trôi qua, trên thế giới có 10 ca tử vong do nạo phá thai và tỷ lệ đó đang ngày một tăng cao, 70 ngàn ca tử vong cho các bà mẹ do nạo phá thai hàng năm, đây chỉ là một con số thống kê chưa đầy đủ của Google. Thế có phải là một lời lừa gạt trắng trợn nhằm một mục đích cố gắng tàn sát các thai nhi càng nhiều càng tốt, coi sinh mạng của cả các bà mẹ chẳng ra gì. Lại nữa, nói rằng phá thai không hề ảnh hưởng chi đến cuộc sống của người phụ nữ thì đúng là một lời dối trá, vì thật ra phá thai không chỉ ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của riêng người phụ nữ phá thai mà còn ảnh hưởng sâu xa đến gia đình, đến xã hội, đến tương lai cả dân tộc ấy chứ. Một dân tộc sẽ ra sao khi các bà mẹ lại toàn là kẻ dám giết chính con ruột mình. Việt Nam đang ở hạng top ten thế giới về tỷ lệ nạo phá thai, và thực tế cho thấy Việt Nam cũng đang suy đồi về đạo đức, nhân phẩm, danh dự dân tộc, thể diện quốc gia… Giết người, cướp của, ăn cắp, lừa đảo, tham nhũng, đàn áp, bóc lột, bạo hành bạo lực, nhan nhản hằng ngày đấy thôi!

Để kết luận, xin các thứ báo chí, truyền thanh, truyền hình của Việt Nam ta, hãy thôi ngay những kiểu viết “báo hại”, những thông tin lập lờ lừa đảo. Dân mình đã khổ lắm rồi, xin đừng làm tan nát thêm các gia đình, tan nát của nhân tâm xã hội bằng những kiểu viết và đưa tin thất đức vô luân như thế nữa. Còn đối với những ai đã trót đọc phải những thứ “báo hại” này, xin hãy bình tâm suy nghĩ, xem xét lại phẩm chất thông tin của chúng, đừng để chính mình trở thành nạn nhân đáng thương của tội ác nạo phá thai.

Đaminh PHAN VĂN DŨNG, 29.3.2014


Nguồn: VRNs
Đọc tiếp »

07-04-2014

Nỗi dằn vặt của người phụ nữ nhặt xác sau ngày trở thành "chuyên gia tư vấn"

Một buổi sáng mưa phùn giữa tháng 8, khi bà Nhiệm đang lúi húi với những món đồ trẻ sơ sinh trong ngôi nhà nhỏ trên phần đất ở nghĩa trang thì chợt nghe tiếng gọi "cô Nhiệm ơi…cô Nhiệm".

Chạy ra ngoài, bà ngạc nhiên khi thấy một người phụ nữ ngoài 30 tuổi, dáng người thấp bé. Bà không biết được rằng, để tìm đến gặp bà, người phụ nữ ấy đã phải đấu tranh tư tưởng hàng tháng trời, trước khi sẵn sàng trải lòng về nỗi đau mà chị sắp phải đối mặt…


Bà Nhiệm ngày nào cũng thăm nom những “ngôi nhà chung”

Người mẹ đi tìm “chỗ chết” cho con

Từ khi thông tin về nghĩa trang Đồi Cốc nơi bà Nhiệm làm việc lan truyền, thì ngày càng có nhiều người dân trên khắp cả nước gọi điện tới hỏi thăm công việc của bà. Thậm chí, có những người đã từng nạo phá thai cũng muốn tìm đến nghĩa trang để thắp hương trong ngày lễ, Tết, mong tìm được sự thanh thản trong lòng. “Nhiều bà mẹ trẻ sau khi đem con đến chôn, hay biết con mình được chôn cất ở đây đã tìm đến nghĩa trang rồi khóc lóc, tôi nhìn mà nghĩ cũng tội. Ngoài ra, có những trường hợp tìm đến với mục đích thổ lộ chuyện buồn, rồi có ý định tìm một chỗ cho chính giọt máu của mình”, bà Nhiệm cho biết.

Nhớ lại một trong những trường hợp đó, bà Nhiệm kể lại: “Hôm đó là một một buổi sáng tháng 8, thế nào ngày hôm ấy mưa phùn, nên tôi ra nghĩa trang để sắp xếp đồ đạc. Khi đang ở trong căn nhà nhỏ xây để đựng đồ đạc trong nghĩa trang, bỗng dưng có tiếng gọi bên ngoài, đi ra tôi thấy có một người phụ nữ dáng người nhỏ khá xinh xắn, độ ngoài 30 tuổi. Cô ấy giới thiệu là tên là Lan, cô ấy biết được việc tôi làm thông qua mạng internet, rồi lấy địa chỉ tìm đến. Sau một hồi giới thiệu, bỗng dưng nước mắt cô ấy trào ra”.

Theo lời bà Nhiệm, trước khi tìm đến với bà, chị Lan từng trải qua những tháng ngày sau khi cưới (năm 2006) khá hạnh phúc. Gia đình chồng kinh tế khá giả, chồng chị cũng có một công việc ổn định. Ngược lại, gia đình nhà chị thì làm nông, nhà lại đông con nên cuộc sống vất vả. Chị thầm nghĩ rằng lấy được tấm chồng như vậy cũng là một điều may mắn đối với chị, cuộc sống sau này sẽ đỡ vất vả hơn.

Nào ngờ, thời gian cứ trôi đi, dù hai vợ chồng chị rất mong muốn nhưng vẫn chị vẫn chưa có con. Chính vì lẽ đó, dần dần chồng chị hay mắng nhiếc, lúc nào mặt mày cũng cau có, nhiều lần còn đánh chửi vợ thậm tệ. Nhưng vì muốn núi kéo tình cảm vợ chồng, nghĩ rằng mình là vợ mà lại không sinh được cho chồng một đứa con, trong lòng chị cũng rất đau khổ. Nhưng rồi cuối cùng chị cũng không chịu được nữa, hai anh chị đã tính chuyện chia tay mỗi người một nơi. Hai bên gia đình biết chuyện đều khuyên can hai vợ chồng, song cả hai vẫn quyết định sống ly thân.

Dù trong lòng vẫn còn yêu thương chồng mình, nhưng cứ nghĩ đến những lúc chồng mắng chửi hay đánh mình, chị lại cảm thấy sợ. Trong lúc thiếu thốn cả về tình cảm lẫn vật chất, chị Lan đã rung động trước một người đàn ông hơn chị 2 tuổi. Kết quả của mối tình này là cái thai ngoài ý muốn. Biết chuyện, người đàn ông ép chị bỏ thai nhi, nhưng chị nhất quyết từ chối. Dần dần, chính người đàn ông đó đã xa lánh rồi bỏ rơi chị, lúc này người chị nhớ nhất cũng chính là anh Hùng, người chồng từng đầu ấp tay gối bao tháng năm. Thời gian hai người sống ly thân, anh Hùng cũng có người phụ nữ khác nhưng mọi chuyện chẳng đi đến đâu. Giữa lúc lúc bị bỏ rơi, chị Lan lại gọi điện và tâm sự với anh Hùng. Kể về những tháng ngày khổ cực của mình, chị Lan vừa nói vừa khóc, mong vợ chồng trở lại đoàn tụ.


Hàng ngày bà Nhiệm vẫn thường đạp xe đi xin xác thai nhi

Nghe chị Lan khóc tâm sự, tình cảm của anh dành cho chị ngày mới yêu nhau như trỗi dậy. Thế rồi, sau nhiều lần gặp gỡ nói chuyện, hai người quyết định quay trở lại với nhau. Nhưng ngặt nỗi, anh Hùng lại đưa ra điều kiện nếu quay trở lại sống như cũ chị Lan phải bỏ đi cái thai đã có với người đàn ông kia. Nghe anh nói vậy, chị lắc đầu từ chối ngay, anh Hùng bảo chị cứ về suy nghĩ rồi quyết định sau. Về nhà, chị suy nghĩ đi nghĩ lại, đó là giọt máu của chị, nhưng giờ giữ nó lại thì cuộc sống của chị sẽ thế nào, chỉ một thân một mình nuôi con cái, tiền bạc không có. Lúc ấy, chị suy nghĩ rất nhiều. Sau một thời gian đấu tranh, chị mới quyết định tìm đến bà Nhiệm, mà tâm tư vẫn nửa muốn phá bỏ cái thai, nửa muốn giữ lại


Tâm nguyện lớn lao của “chuyên gia tư vấn” bất đắc dĩ

Ngồi tâm sự với bà Nhiệm, chị Lan ưu tư kể về nỗi cùng cực của mình. Chị cắn răng chấp nhận bỏ đi đứa con mình đang mang cũng chỉ vì muốn quay lại với anh Hùng, và một phần vì khó khăn về kinh tế. Nghe chị Lan nói vậy, bà Nhiệm đã hết mực khuyên nhủ: “Cháu đã lấy chồng bao lâu rồi mà vẫn chưa có con. Nhỡ đâu bây giờ bỏ cái thai đi thì sau này, cháu không có lại thì sao, có rất nhiều trường hợp như thế đấy”. Nghe bà Nhiệm nói vậy, nước mắt chị Lan cứ ứa ra, nhưng trong lòng chị vẫn muốn giữ tình yêu với người chồng mà mình từng có ý định rời xa. Nhìn chị Lan trong hoàn cảnh đó, trong lòng bà Nhiệm cũng đau xót, nhưng bản thân bà cũng chỉ biết khuyên nhủ người đàn bà bất hạnh ấy. Ngồi giãi bày câu chuyện của mình với bà Nhiệm hơn một tiếng đồng hồ, chị Lan đứng dậy xin phép ra về và vẫn bỏ lửng câu hỏi về một nơi chôn cất cho cái thai nhi đang nằm trong bụng mình. Trước khi từ biệt, cả hai người cũng không quên cho nhau số điện thoại để tiện liên lạc.

Sau khi rời mảnh đất đầy “sự bất hạnh”, chị Lan trở về nhà với tâm trạng rối bời, mấy ngày sau bà Nhiệm có gọi điện hỏi thăm và khuyên nhủ chị thêm hai lần nữa. Bà vẫn khuyên rằng chị nên giữ lại cái thai đó, dù sao nó cũng là máu mủ của mình, chị Lan nghe vậy cũng chỉ biết “dạ, vâng”. Rồi bẵng đi mấy hôm, bất chợt có cuộc điện thoại từ chị Lan, nghe chị Lan nói xong bà Nhiệm sững sờ, khi biết chị nói rằng: “Cô Nhiệm à? Cháu cảm ơn cô nhiều về những ngày đã qua, cháu nhờ cô một việc cuối cùng là chôn cất và chăm nom đứa con mà cháu không thể sinh nó ra trên cõi đời này được…”. Nói đến đây, giọng chị Lan nghẹn lại, chị cố gắng tiếp lời “chồng cháu sẽ mang bé đến rồi gọi cho cô, mọi việc xin nhờ vào cô đấy”, nói rồi chị Lan tắt máy.


Quyển sổ ghi lại số lượng những sinh linh xấu số

Nghe chị Lan nói vậy, bà Nhiệm ngỡ ngàng vẫn chưa hiểu chuyện gì xảy ra, nhưng chỉ một tiếng đồng hồ sau đó, một người đàn ông gọi điện bà ra gần nghĩa trang và nói là chồng chị Lan, rồi đưa cho bà một bọc nilon màu đen. Bà Nhiệm nhớ lại: “Đưa bọc nilon cho tôi xong, anh ấy còn bảo tôi rằng cái Lan nó phải mổ nên không mang bé lên được, tất cả nhờ cậy vào cô giúp”. Cầm túi nilon trên tay, không giống như những lần trước, mà lần này tay bà cứ run run, lòng bà như thắt lại.

Những ngày sau, bà lại tiếp tục công việc của mình, gắn với việc làm từ thiện của mình, bà Nhiệm có biết bao kỷ niệm vui, buồn. Sát cánh bên bà giờ còn có cả người chồng và các con trong gia đình. “Đã có gần 60.000 hài nhi nằm yên nghỉ tại “mái nhà chung” này. Gia đình chúng tôi làm việc này chỉ với mục đích đưa các em về nơi yên nghỉ, cha mẹ các em không thể làm được thì chúng tôi làm thay”, bà Nhiệm chua xót nói.

Nghe “chuyên gia tư vấn” bất đắc dĩ kể chuyện mà ai cũng không khỏi chạnh lòng, nhìn đôi bàn tay nhỏ bé của bà, nhưng với tầm lòng nhân hậu, bà Nhiệm đã đưa hàng vạn sinh linh xấu số về “mái nhà chung” yên nghỉ. Thử hỏi rằng nếu không có “mái nhà chung” này thì hàng vạn hài nhi kia đến giờ sẽ như thế nào (?). Suốt những tháng ngày làm công việc “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”, bà Nhiệm chỉ ước mong đến một ngày nào đó bà và tất cả những người giúp bà sẽ hết việc để làm.


Tâm nguyện của người hành thiện

“Các bé bị bỏ rơi nhưng cuối cùng vẫn có chỗ yên nghỉ, nhưng nhìn những cảnh tượng đó đáng thương lắm. Đến giờ, nghĩa trang này cũng gần 6 nghìn em yên nghỉ. Tâm nguyện của tôi cũng chỉ muốn mọi người hãy nghĩ việc mình làm trước khi có ý định tước đi quyền sống của các em, để chúng tôi không còn việc để làm nữa”, đó là ước nguyện lớn nhất của người trong cuộc như bà Nhiệm và cũng là của tất cả mọi người khi đứng trước “mái nhà chung” ở Đồi Cốc.


Ngọc Tiến


giadinh.net.vn
Đọc tiếp »

02-04-2014

GP Phát Diệm: Đại hội Bảo Vệ Sự Sống năm 2014

Hằng năm, đáp lời kêu gọi của Đức Thánh Cha, giáo phận Phát Diệm dành ngày lễ Truyền tin Chúa nhập thể để cầu nguyện cổ võ cho việc bảo vệ sự sống (BVSS) ngay từ khi đầu thai trong lòng mẹ cho tới khi được sinh ra làm người.


Trong tinh thần sống năm “Phúc Âm hoá đời sống gia đình” và kỷ niệm 3 năm ngày thành lập ban BVSS tại Gp Phát Diệm, ngày 25-3-2014, tại Tòa Giám Mục Phát Diệm, Ban BAXH-Caritas giáo phận cùng với các thành viên nhóm BVSS các giáo xứ, giáo hạt đã tổ chức Đại hội, gặp gỡ thảo luận, trao đổi những kinh nghiệm và cầu nguyện cho hoạt động BVSS. Đại hội vinh dự được cha Fx Nguyễn Kim Phùng DCCT đặc trách BVSS tổng giáo phận Hà Nội cùng với các thành viên truyềnthông ban BVSS giáo tỉnh Hà Nội và quý vị khách mời về tham dự.

Đúng 9h00 Cha Antôn Nguyễn Tâm Tư trưởng ban BAXH Caritas phát biểu khai mạc Đại Hội.

Tiếp đó chị Maria Nguyễn Thị Tâm thay mặt nhóm BVSS của giáo phậnbáo cáo hoạt động nhóm trong năm 2013. Chị cho biết đã thành lập được 6 nhóm tại 5 giáo hạt, gồm hơn 125 tình nguyện viên, thuyết phục 19 trường hợp không phá thai để thai nhi được sinh ra, thu gom được gần 2000 thai nhi an táng tại 4 nơi : Cồn Thoi, Phát Diệm, Tôn Đạo, Đồng Chưa. Đây không phải là thành quả mà là sự xót xa phải lưu tâm. Tội ác phá thai đang dần trở nên phổ biến trong xã hội xuống cấp về đạo đức. Chúng ta cùng lên tiếng bảo vệ sự sống vì sự sống là quà tặng của Thiên Chúa ban cho nhân loại, chỉ Thiên Chúa Duy Nhất làm chủ sự sống của nhân loại.

Cha Fx Nguyễn Kim Phùng DCCT đặc trách ban bảo vệ sự sống tổng Gp Hà Nội chia sẻ kinh nghiệm và hành trình đưa cha đến với sứ vụ BVSS, cho đến nay cha đã đào tạo được rất nhiều chuyên viên trong nhóm BVSS điển hình là bà: Maria Trần thị Hường. Bà là một giáo dân năm nay đã 74 tuổi nhưng rất nhiệt thành trong hoạt động bảo vệ sự sống. Bà thuyết trình giúp cộng đoàn hiểu nguồn gốc sự sống hình thành trong lòng mẹ; thực trạng nạn phá thai trong xã hội. Phá thai là một hình thức giết người ghê rợn để lại hậu quả nghiêm trọng về sức khoẻ, tâm lý người mẹ. Vi phạm vào Điều răn thứ 5 Chúa dạy ta “chớ giết người”. Những người có liên quan đến việc phá thai đều bị vạ tuyệt thông tiền kết. Hiệu quả của Thông điệp Bảo vệ sự sống phải nhắm tới phần gốc đó chính là truyền thông tại ngay chính mỗi gia đình. Bởi lẽ gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có hạnh phúc xã hội mới hạnh phúc. Mỗi thành viên trong gia đình phải hiểu được mầu nhiệm sự sống và hậu quả của việc phá thai, từ đó mới có ý thức trong việc bảo vệ sự sống. 


Kết thúc bài thyết trình, ca sĩ Quang Huy trong nhóm truyền thông BVSS TGP Hà nội đã hát bài “Mẹ ơi xin đừng giết con”. Bài hát cảm động khiến nhiều người trong hội trường rơi lệ.

Tiếp đó, nhóm Truyền thông bảo vệ sự sống tổng giáo phận Hà Nội chia sẻ những kinh nghiệm hoạt động và giúp mọi người hiểu biết thêm những kỹ năng mềm trong truyền thông BVSS. 


Lúc 11h00, cộng đoàn cùng hiệp thông trong thánh lễ Truyền Tin sốt sắng tại nhà thờ chính toà Phát Diệm, do cha Tổng Đại Diện chủ tế.

Theo ý của Đức Cha giáo phận, hôm nay cả giáo phận ăn chay để đền tội phá thai đang diễn ra ở khắp nơi trên thế giới. Sau thánh lễ, quý cha và các tham dự viên cùng quý khách dùng bữa cơm chay tại Tòa Giám Mục.

Nếu các đại hội kết thúc trong niềm vui, và mọi người ra về trong hân hoan, thì Đại hội BVSS luôn luôn kết thúc trong ưu sầu, lặng lẽ. Mọi người ra về mà lòng nặng trĩu những ưu tư, nhức nhối vì tội ác phá thai ngày càng nhiều.

Nguồn: giaophanphatdiem
Đọc tiếp »

Lương tâm

Theo Công đồng Vaticanô II, «Lương tâm là nơi thẳm sâu thầm kín, là cung thánh của lòng người, nơi đây chỉ còn một mình con người với Thiên Chúa, Đấng đang lên tiếng trong thâm tâm con người.» (GS, 16). Tiếng nói ấy của Thiên Chúa là tiếng nói tối hậu mà con người phải tuyệt đối nghe theo. Tiếng nói ấy là một thứ luật lệ được phú bẩm nơi thẳm sâu cuả tâm hồn.



LƯƠNG TÂM

Đã có một thời câu nói “Việt nam là lương tâm của nhân loại“, dù được thốt ra một cách thành tín hay mỉa mai, đã trở thành câu đầu môi chót lưỡi của nhiều người.

Nếu suy nghĩ một cách nghiêm chỉnh, thì kiểu nói nầy xem ra không chỉnh chút nào, bởi vì nếu lương tâm là một ý thức cá biệt, riêng lẻ từ trong sâu thẳm của cõi lòng mỗi người, thì làm gì có thứ lương tâm đại diện cho mọi lương tâm như thế ?

Lương tâm là một khả năng gắn liền với sự sống : còn sống là còn có lương tâm. Chỉ có điều là, tuy mỗi người có một lương tâm, nhưng thái độ của mỗi người đối với lương tâm lại khác nhau. Điều đó có nghĩa là có người biết lắng nghe tiếng nói của lương tâm và có người thì không. Khi nói «ông A có lương tâm» là muốn nói rằng ông ấy biết hành động theo tiếng nói của lương tâm. Còn khi nói «ông B không có lương tâm» là người ta muốn ám chỉ rằng ông B không hành động theo lương tâm. Nhưng trường hợp thường xảy ra hơn, đó là người ta bóp nghẹt tiếng nói của lương tâm, hay do những hoàn cảnh, người ta không nhận ra một cách đúng đắn tiếng nói của lương tâm và tội ác phát sinh từ đó.

Tất cả mọi tội ác xảy ra, xét cho cùng, là vấn đề lương tâm. Xin lấy một thí dụ: nạn phá thai. Có người phá thai vì không muốn nghe tiếng nói của lương tâm bảo rằng phá thai là một tội ác. Có người phá thai vì không nhận ra tiếng nói của lương tâm, cho nên nghĩ rằng phá thai trong một số trường hợp nào đó là được phép.

Vì thế, hơn bao giờ hết, những nhà giáo dục nghĩ rằng, trong hoàn cảnh hiện nay, đào luyện lương tâm, hay đúng hơn hướng dẫn con người sống theo tiếng nói của lương tâm là một trong những điều cấp bách nhất, nếu muốn cải tạo xã hội.

Trong loạt bài về lương tâm, xin được trình bày tám đề tài:

1. Ý niệm về lương tâm theo kitô giáo

2. Tầm quan trọng của lương tâm

3. Lương tâm sai lạc

4. Lương tâm đúng đắn cần dưa trên những tiêu chuẩn luân lý khách quan

5. Tự do lương tâm

6. Lương tâm cần phải được hướng dẫn

7. Người công giáo có quyền bất đồng ý kiến với giáo hội không ?

8. Người công giáo có thể nại vào lương tâm để bất đồng ý kiến với giáo hội không ?



Bài 1

Ý NIỆM VỀ LƯƠNG TÂM THEO KITÔ GIÁO


Theo tâm lý, lương tâm trước tiên là một ý thức bảo cho con người biết rằng nó là một con người có lý trí và tự do. Từ ý thức mình có lý trí và tự do, con người cũng cảm thấy tức khắc được mời gọi làm điều thiện và tránh điều ác, tức là được mời gọi sống theo luân lý.

Theo Công đồng Vaticanô II, «Lương tâm là nơi thẳm sâu thầm kín, là cung thánh của lòng người, nơi đây chỉ còn một mình con người với Thiên Chúa, Đấng đang lên tiếng trong thâm tâm con người.» (GS, 16). Tiếng nói ấy của Thiên Chúa là tiếng nói tối hậu mà con người phải tuyệt đối nghe theo. Tiếng nói ấy là một thứ luật lệ được phú bẩm nơi thẳm sâu cuả tâm hồn. Nó là thước đo và tiêu chuẩn mà những phán đoán và quyết định của con người phải qui chiếu vào, là khả năng đánh giá một hành vi của con người là tốt hay xấu, đúng hay sai theo luật luân lý. Xin nghe Công đồng nói về lề luật được ghi khắc nơi lương tâm như sau : «Nơi tận sâu thẳm của lương tâm, con người khám phá ra một lề luật không do chính mình đặt ra nhưng lại phải tuân theo, và tiếng nói của luật lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải sống yêu thương và thi hành điều thiện cũng như tránh xa điều ác. Trong tâm hồn con người, tiếng nói ấy luôn vọng lên đúng lúc : hãy làm điều này, hãy tránh điều kia.» (GS, 16).

Khi tuân theo lề luật của lương tâm là con người bảo đảm cho phẩm giá của mình. Và lương tâm trở thành thẩm phán về tính cách luân lý của hành vi con người. Một cách cụ thể, lương tâm giúp mỗi người thẩm định liệu luật luân lý và hành vi tự do của mình có khớp với nhau không, hay là trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Công Đồng khẳng định : «Thiên Chúa đã khắc ghi sẵn trong tâm hồn con người một lề luật, phẩm giá con người có được nhờ tuân giữ lề luật ấy và con người sẽ bị xét xử theo lề luật ấy.» (GS, 16).

Nhưng lương tâm không chỉ là thẩm phán mà còn là chứng nhân. Trước chứng từ của lương tâm về hành động của mình, con người không thể nào chối cãi được. Con người có thể thoát khỏi một phán quyết của toà án loài người, nhưng không ai thoát khỏi sự luận phạt và làm chứng của toà án lương tâm.

Lương tâm không chỉ làm chứng mà nó còn quyết định và ra lệnh, và mệnh lệnh của lương tâm là một mệnh lênh tuyệt đối, nghĩa là không thể châm chước hay miễn chấp vì bất cứ lý do hay hoàn cảnh nào.

Xét cho cùng, lương tâm chính là tiếng nói của Thiên Chúa trong cung lòng con người. Thánh Bonaventura so sánh lương tâm với một người sứ giả của Thiên Chúa. Người sứ giả không loan báo sứ điệp của riêng mình, mà chỉ nói những gì Thiên Chúa truyền cho phải nói (x. thánh Augustinô, thư Gio-an 8, 9). Chính vì thế con ngươi phải tuân phục tiếng nói của lương tâm một cách tuyệt đối. Tuyên ngôn về tự do tôn giáo của Công Đồng Vaticanô II viết rằng : «[…] con người phải trung thành tuân theo lương tâm trong mọi hành động để đạt tới cùng đích đời mình là chính Thiên Chúa. Vì thế, không ai bị cưỡng bách hành động trái với lương tâm, cũng như không ai bị ngăn cấm hành động theo lương tâm, nhất là trong lãnh vực tôn giáo.» (Dignitatis humanae, 3).

Những nhận định trên gợi lên một suy nghĩ: con người không thể là vô thần. Con người có thể tự cho mình là vô thần, nhưng từ thâm cung của cõi lòng, bao lâu con người còn sống, thì bấy lâu con người còn nghe tiếng nói của Thiên Chúa. Con người có thể bịt tai giả điếc trước tiếng nói ấy, con người có thể khước từ tiếng mời gọi đối thoại với Thiên Chúa, nhưng con người không thể nào chối bỏ được rằng có một tiếng nói vang lên từ trong đáy thẳm của lòng mình.

Thảm trạng bi đát nhất mà con người ngày nay đang rơi vào chính là toan tính muốn bóp nghẹt tiếng nói ấy của Thiên Chúa trong tâm hồn mình. Nhưng dù con người có cố gắng đào thoát, chạy trốn đến đâu, tiếng nói ấy vẫn cứ mãi vang vọng trong lòng. Kinh Thánh đã diễn tả cuộc đào thoát của con người qua hình ảnh cuộc chạy trốn vô vọng của Cain sau khi đã giết em. Có ẩn mình sâu trong lòng đất, Cain vẫn thấy ánh mắt theo dõi và nghe tiếng nói : «Em của ngươi đâu?» Nhà tư tưởng Blaise Pascal đã nhìn ra, trong muôn vàn sáng kiến giải trí của con người, một cuộc trốn chạy : con người muốn lẩn trốn chính mình, con người muốn lẩn trốn tiếng gọi của Thiên Chúa. Những âm thanh ồn ào của các nhạc cụ, những đê mê của các thứ thuốc kích thích, những vũ điệu quay cuồng, những chuếnh choáng men rượu không gì khác hơn là những cuộc trốn chạy khỏi tiếng gọi của Thiên Chúa.

Nhưng càng trốn chạy, con người càng rơi vào một thứ trống rỗng, mà còn tệ hơn thế nữa, con người rơi vào thất vọng và đánh mất chính mình! Tại sao thế? Thưa là vì Thiên Chúa phú ban lương tâm cho con người không phải để làm khó dễ hay luận phạt con người, mà chính là để mời gọi con người trở nên người hơn. Cho nên, nếu con người chạy trốn tiếng gọi của Thiên Chúa, thì con người cũng đánh mất chính mình. Lương tâm, xét cho cùng, cũng chính là tiếng gọi yêu thương của Thiên Chúa. Bóp nghẹt tiếng nói của lương tâm, khước từ tiếng nói của lương tâm là khước từ chính tình yêu của Thiên Chúa.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lừng

(Còn tiếp)
Nguồn: gpphanthiet.com
Đọc tiếp »

01-04-2014

Một linh mục nhiệt thành chống lại nền văn minh sự chết

VRNs (29.03.2014) - Mumbai, Ấn Độ – Hãng tin AsiaNews cho biết: “Là Kitô hữu, chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng Chúa Giêsu là sự sống và Ngài đến để ban cho chúng tôi sự sống sung mãn. Do đó, chúng tôi phải làm hết sức để thăng tiến sự sống, để cho nền văn minh sự sống được triển nở. Chúng tôi chống lại nạn phá thai. Đồng thời, chúng tôi cũng chống lại án tử hình. Vấn đề không nằm ở chỗ người ta đã phạm tội gì và mức độ nặng đến đâu. Nhưng nếu chúng ta tin rằng Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, chúng ta phải lên tiếng về những dạng thức của “tử thần”: phá thai, án tử hình và trợ tử.”

Đây là những lời của linh mục Cedric Prakash, một linh mục tại Gujarat-Ấn Độ. Ngài là người đã được TGP Mumbai trao giải Sự Sống Con Người (Human Life Award) hôm 23/3 vừa qua.

Một tổ chức khác cũng được trao giải trong dịp này là Cô nhi viện Nirmala Shishu Bhavan, được điều hành bởi các sơ Dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Têrêsa thành Calcutta.


“Hằng năm, chúng tôi trao giải “Phò sự sống Sr Annunciata” và giải “Lily and Rose”. Đức Cha Agnelo Gracias, đồng chủ tịch Ủy ban Sự sống con người và Ủy ban Gia đình giáo phận Mumbai cho biết.

Linh mục Prakash, người nhận giải đầu tiên, lãnh đạo Trung Tâm Nhân Quyền, Công Lý và Hòa Bình tại Prashant. Cô nhi viện Bhavan được đặt tại vùng ngoại ô Vile Parle của Mumbai.

Đại diện cô nhi viện lên nhận giải, Sơ Rahanna nhắc lại lời của Mẹ Têrêsa: “Tôi không biết thành công sẽ là những gì. Nhưng nếu các nữ tu Dòng Thừa Sai Bác Ái mang được niềm vui vào những gia đình không hạnh phúc, nếu họ giúp một đứa trẻ đường phố vô tội được chăm sóc vì Chúa Giêsu, nếu họ nâng đỡ một người đang hấp hối được bình an với Chúa thì thật tuyệt vời. Điều đó đáng để hi sinh tất cả vì nếu làm được điều đó, họ sẽ mang lại những niềm vui diệu vời cho Trái tim Đức Giêsu.”

Về phần mình, linh mục Prakash cùng với trung tâm Prashant đã cố gắng giúp đỡ các nạn nhân của những cuộc xung đột giữa người Hindu và Hồi giáo tại Gujarat năm 2002.



Trong bài phát biểu, ngài nói: “Những cuộc chém giết năm 2002 tạo ra nền văn minh sự chết, không chỉ tại Gujarat mà còn trên toàn bộ Ấn Độ”.

“Ngày nay, dường như nhiều người Ấn Độ đang hợp pháp nó. Một bộ phận xã hội ủng hộ ai đó như là ứng viên cho chức thú tướng, người có trách nhiệm trên trang sử đẫm máu này của Ấn Độ.”



Ngài nhấn mạnh:

“Tuy nhiên, thảm kịch này chưa nghiêm trọng bằng việc chúng ta thờ ơ trước những gì đang xảy ra với người khác. Khi mà chúng ta thấy việc đốt phá, cướp bóc, hiếp dâm, giết chóc chẳng đặt thành vấn đề gì. Chúng ta đã phá hủy tính thánh thiêng của sự sống”.

Được biết, có hơn 300 đại biểu đến từ 70 giáo xứ đã tham dự buổi trao giải.

Jos. Đức Trung


Theo VRNs
Đọc tiếp »

31-03-2014

Phá thai: Tội và Hình phạt

1. Thực trạng

Phá thai là một hành động vô luân huỷ hoại sự sống. Việt nam là một 5 nước đứng đầu trên thế giới về số lượng ca nạo phá thai. Con số trung bình lên đến 300.000 ca mỗi năm [1]. Đó là chưa kể đến các ca nạo phá thai ở các cơ sở tư nhân, phá thai chui và phá thai trá hình không được thống kê. Tội ác này không những không bị chính quyền ngăn cấm mà còn được cỗ vũ, khuyến khích dưới nhiều hình thức khác nhau. Và thậm chí còn được xem là quyền của mỗi người. Bên cạnh đó, các phương tiện y khoa ngày càng tinh vi hiện đại giúp việc thực thi tội ác này ngày càng dễ dàng hơn. Chỉ cần gõ chữ ‘phá thai’ trên Google, ta sẽ nhận được cả hàng trăm trang quảng cáo dịch vụ phá thai. Không những trên các website mà ở trong các thành phố ta vẫn thấy nhan nhãn những biển quảng cáo cho dịch vụ này.[2] Người Công giáo Việt Nam ngày nay đang phải sống trong xã hội với một thực trạng như vậy, chắc chắn việc phá thai sẽ là một cám dỗ rất lớn. Chủ đề phá thai được bàn đến trong nhiều lãnh vực của cuộc sống. Nó là chủ đề liên quan đến Y khoa hay tâm lý, xã hội, chính trị, luật pháp, luân lý… Ý thức được phạm vi rộng lớn của vấn đề, tôi chỉ xin đề cập nó (ở mức sơ sài) dưới cái nhìn Kinh Thánh, Giáo Luật, và Giáo Huấn của Hội Thánh về tội và hình phạt dành cho người Công giáo khi phạm đến tội ác này.

2. Thánh Kinh nói gì?

Ngay từ những trang đầu, Kinh Thánh Cựu Ước cho thấy chính Thiên Chúa đã sáng tạo nên con người (St 1, 26-27; Gióp 10, 8-12; 31,15; Tv 139,13-16). Sách Thánh khẳng định, sự sống con người thuộc về Thiên Chúa và chỉ mình Ngài mới có quyền tối thượng quyết định trên nó (Dnl 32,39). Vì thế, ai đổ máu người vô tội thì mang tội lớn và phải chịu hình phạt cũng như phải đền bù thoả đáng (St 9,5-7; Xh 21,22-25). Đặc biệt, Kinh thánh cũng đề cập đến tội lỗi và hình phạt trong việc tắm máu các trẻ thơ vô tội. “Ngươi đã làm gì vậy? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta! Giờ đây, ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi do tay ngươi đổ ra. Ngươi có canh tác đất đai nó cũng không còn cho ngươi hoa màu của nó nữa. ngươi sẽ lang thang phiêu bạt trên mặt đất” (St 4,10-12). Đó chính là bản án dành cho Cain khi ông đã đổ máu người vô tội là Aben, em mình.

Đến thời Tân Ước, Tin Mừng Luca cho thấy Đức Maria là mẫu gương cho chúng ta trong việc đón nhận, bảo vệ và nâng đỡ sự sống thai nhi. Hai tiếng “Xin Vâng” nói lên thái độ vâng phục và đón nhận sự sống của Mẹ từ Thiên Chúa quan lời Sứ Thần (Lc 1, 26-38). Mẹ viếng thăm, nâng đỡ bà Elisabeth và thai nhi Gioan khi nghe biết người chị họ này đã mang thai trong lúc tuổi già (Lc 1,39-45). Tin Mừng thứ ba này còn cho biết không những Đức Maria mà cả thai nhi Gioan Tẩy Giả cũng hân hoan và nhảy mừng trong bụng mẹ để đón chào Sự sống (thai nhi Giêsu): “Vì này đây, tai tôi vừa nghe lời em chào thì đứa con trong bụng đã nhảy lên sung sướng” (Lc 1, 44). Sau hết, Chúa Giêsu cũng đã bảo vệ sự sống. Thái độ yêu thương của Người dành cho các trẻ nhỏ cho thấy điều đó. Ngài đề cao các trẻ nhỏ và ví chúng như các thiên thần trên trời được chiêm ngưỡng nhan Chúa Cha (Mt 18,10).

Ngài hân hoan đón nhận các trẻ nhỏ đến với Ngài và tuyên bố “Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng” (Lc 18, 16). Rõ ràng, Kinh thánh Cựu ước và Tân ước tuy không trực tiếp nói đến phá thai nhưng đều nhìn nhận sự cao trọng của sự sống và đặc biệt bảo vệ sự sống của thai nhi, những người vô tội yếu đuối. Xúc phạm đến sự sống vô tội đều phải gánh chịu một hình phạt nhất định.

3. Giáo Luật Và Giáo Huấn của Hội Thánh [3]

Theo bộ giáo luật 1983 điều 1398 quy định: “người nào thi hành việc phá thai có hiệu quả thì bị vạ tuyệt thông tiền kết”. Vạ tuyệt thông tiền kết là gì? Đây là loại hình phạt mang tính tự động (automatic). Hình phạt này tội nhân phải gánh chịu “do tính cách nghiêm trọng của tội ác” [4]; và không cần một tuyên án cụ thể nào của nhà chức trách có thẩm quyền. Vạ tuyệt thông tiền kết thường được áp dụng cho các tội lớn trong giáo hội như lạc giáo, bội giáo, ly giáo. Tại sao lại áp dụng án phạt này cho người có hành vi nạo phá thai? Bởi lẽ, các thai nhi không có khả năng tự vệ nên tội ác phá thai có tính chất nghiêm trọng. Giết một người trưởng thành chỉ mang tội trọng trong khi đó giết thai nhi không những mang tội trọng mà còn bị vạ tuyệt thông tiền kết. Huấn quyền đã lặp đi lặp lại và dạy một cách xác tín rằng phá thai luôn là trọng tội và vô luân nghiêm trọng [5]. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng khẳng định: “Vì vậy, với quyền bính được Chúa Kitô trao cho Phêrô và những người kế vị, trong sự hiệp thông với tất cả giám mục của Giáo Hội Công Giáo, tôi xác nhận rằng việc trực tiếp và cố ý giết một người vô tội luôn luôn là điều vô luân nghiêm trọng. Giáo lý này căn cứ vào luật bất thành văn mà mọi người nhận thấy trong thâm tâm của mình dưới ánh sáng của lý trí (x. Rm 2, 14-15), được Thánh Kinh khẳng định và Truyền Thống Giáo Hội lưu truyền và được Huấn Quyền thông thường và phổ quát giảng dạy” [6]. Nếu một người Công Giáo nạo phá thai, hành động và xác tín của họ đi ngược với Giáo Huấn của Giáo Hội. Một mặt, họ thực hiện hành vi phá thai hiệu quả và chịu hình phạt theo quy định điều luật 1398. Mặt khác, họ có quan điểm trái ngược với Giáo Huấn của Giáo Hội khi cho rằng phá thai là không vô luân, chấp nhận được hay cho rằng đó là quyền của con người. Điều này khiến họ bị liệt vào hạng người lạc giáo. Theo điều 751: “Lạc giáo là ngoan cố chối bỏ hoặc ngoan cố hồ nghi về một chân lý phải tin với Đức tin Thần Khởi và Công giáo sau khi đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội; bội giáo là chối bỏ đức tin Kitô giáo; ly giáo là từ chối vâng phục Đức Giáo hoàng hoặc từ chối hiệp thông với các chi thể của Giáo Hội thuộc quyền ngài.”. Các tội này chịu hình phạt vạ tuyệt thông tiền kết theo điều 1364§1 “Người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo đều bị vạ tuyệt thông tiền kết.” Như thế, bất kỳ người Công giáo nào dù chưa phá thai hiệu quả mà cố ý cho rằng phá thai thì không vô luân đều mang tội lạc giáo và phải gánh chịu vạ tuyệt thông tiền kết.

Đối với những người Công giáo cộng tác vào việc phá thai thì sao? Theo luật dân sự, nếu một người phạm tội, người nào cung cấp các phương tiện vật chất hay tinh thần một cách chủ ý và có hiểu biết cho phạm nhân thì được gọi là kẻ đồng phạm và phải chịu những hình phạt của luật. Tương tự, bất kỳ người Công giáo nào cung cấp phương tiện vật chất hay tinh thần một cách chủ ý và có ý thức cho một người phụ nữ để thực hiện việc phá thai thì phạm tội trọng và mang vạ tuyệt thông tiền kết [7].

Việc cỗ vũ cho việc phá thai thuộc vào tội đồng loã. Những ai cỗ vũ cho việc phá thai như tuyên truyền, phát thuốc, quảng cáo, phim ảnh, ủng hộ luật phá thai hợp pháp… thì cũng đều mang tội trọng và lãnh án vạ tuyệt thông tiền kết. Một chính trị gia công giáo tham gia vào việc soạn thảo luật cho phép phá thai hay lên tiếng giữa dân chúng rằng mình ủng hộ chính sách phá thai thì cũng chịu cùng một tội và vạ trên. Khi một người bỏ phiếu tín nhiệm một quan chức ủng hộ phá thai người ấy được kể là kẻ đồng phạm. Tội trọng và án vạ tuyệt thông này đương nhiên cũng áp dụng cho những người công giáo cho mình là ‘thần học gia’ hay học giả Thánh Kinh, nhưng lại tin và dạy rằng phá thai không là vô luân nghiêm trọng.

4. Việc giải thích và áp dụng các điều Luật liên quan

Việc giải thích các điều luật về tội phạm trong Giáo Hội thường phải theo nghĩa hẹp. Không nên giải thích theo nghĩa rộng để đi đến kết án nhiều người. Các nhà chức trách có thẩm quyền được khuyên không nên vội tuyên án và sửa dạy bằng những hình phạt vạ tuyệt thông, nhất là những hình phạt liên quan đến việc ngăn cấm lãnh nhận bí tích. Ngoài ra, nên nhớ rằng một người tuy đang bị hình phạt vạ tuyệt thông do phạm tội ác này cách công khai nhưng họ vẫn là Kitô hữu. Vì thế, việc một số linh mục hay Hội Đồng Mục vụ ngăn cấm họ tham dự các buổi cử hành phụng vụ hay các hoạt động khác trong cộng đoàn nên cần phải xem lại. Vạ tuyệt thông chỉ nên dừng lại ở những ngăn cấm lãnh nhận các Bí tích và một số quyền lợi của kitô hữu. Mặt khác, trong thực tế, ta không thể ngay lập tức khẳng định rằng một người nào đó phá thai hoặc cộng tác vào việc đó là bị vạ tuyệt thông tiền kết [8]. Không phải tất cả mọi người đều mang tội và vạ như nhau khi thực hiện hành vi phá thai. Một người đi đến quyết định phá thai thường là do nhiều lý do khác nhau. Nếu họ thuộc vào trường hợp được quy định ở điều 1323 thì tội và vạ được giảm nhẹ hoặc không bị một hình phạt nào. Ví dụ, người chưa đủ 16 tuổi, người không biết đến quy định của luật, người hành động dưới áp lực của người khác (do sợ hãi, do tự vệ, người không sử dụng được trí khôn…) khi đó họ hành động thiếu sự hiểu biết, thiếu tự do và ý muốn, nên không phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Tuy nhiên, không phải vì thế mà ta nới lỏng và dung túng cho tội ác. Một cách lý tưởng là mọi hình thức phá thai phải được cấm triệt để.

5. Giải vạ tuyệt thông

Yếu tố điều kiện và hoàn cảnh có thể làm giảm nhẹ hoặc chấm dứt tội và hình phạt (vạ) cho một người thực hiện hoặc cộng tác vào việc phá thai. Nhưng một người có lương tâm nhạy cảm sẽ cho rằng hành động của mình đã phạm tội trọng và vạ tuyệt thông. Nên biết rằng, vạ tuyệt thông không phải là hình phạt đời đời mà Giáo Hội dành cho các phạm nhân. Nếu ai đó thấy mình đã bị vạ tuyệt thông tiền kết vì liên quan đến phá thai, họ nên đến toà giải tội để xưng thú điều mình đã phạm để được tha tội và vạ. Ở toà trong, Đức Giám mục có thể tha vạ do tội phá thai gây ra. Chỉ Đức Giám mục mới có quyền tha vạ này. Thường thường, ở nhiều nơi, Đức Giám mục trao quyền tha vạ này cho các linh mục giải tội. Và chỉ những ai được uỷ quyền mới có năng quyền tha vạ tuyệt thông này.

Trong trường hợp tội phạm công khai cũng cần được Đức Giám mục giải vạ. Tuy nhiên, nếu người vi phạm cách kín đáo hay công khai là một ứng sinh linh mục thì điều này sẽ gây ngăn trở cho việc truyền chức của người đó về sau [9]. Trường hợp này, việc giải vạ chỉ dành riêng cho Toà Thánh. Vì sao? Có lẽ một mặt do tính chất nghiêm trọng của tội ác; mặt khác, do tính chất cao trọng của chức vụ tư tế thừa tác, và những đòi hỏi phải có của một ứng sinh linh mục [10], toà thánh đã chỉ dành quyền giải vạ này cho mình.

6. Kết luận

Phá thai là một vấn đề nghiêm trọng đối với thời đại chúng ta. Giáo Hội luôn đứng về phía những người phò sự sống để chống lại phá thai và bảo vệ con cái mình khỏi dính vào loại tội ác mang tính diệt chủng này. Chủ đề này không chỉ được đề cập đến trong giáo luật, song trong nhiều lĩnh vực giáo huấn khác nhau của Giáo Hội như các Công Đồng, Giáo Lý Hội Thánh, Giáo Huấn của các Đức Giáo hoàng qua các triều đại, các giám mục, và các thần học gia. Quan điểm và lập trường của Giáo Hội về vấn đề phá thai sẽ không bao giờ thay đổi vì bảo vệ sự sống như là căn tính của Giáo hội. Là người Công giáo, ta luôn ý thức được sự vô luân nghiêm trọng của tội ác phá thai. Đồng thời, tích cực góp phần vào việc dựng xây nền Văn Hóa Sự Sống, để đẩy lui Văn minh chết chóc [11]. Bên cạnh đó, cần cỗ vũ việc giáo huấn cho giới trẻ đang trưởng thành có một lối sống lành mạnh. Giúp họ đào tạo lương tâm trưởng thành và có trách nhiệm trong các tương quan phái tính. Và quan trọng nhất là gây ý thức quý trọng và bảo vệ sự sống cùng can đảm tránh xa sự dữ, sự ác.

Giuse Tô Văn Toản


[1] Thống kê mới nhất của Thạc sĩ – Bác sỹ Lê Quang Thanh, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ công bố tại hội thảo “Ngừa thai hormone – Hiểu biết nhu cầu và lựa chọn của phụ nữ” tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết với trung bình mỗi năm có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15-19, trong đó 60-70% là học sinh, sinh viên; Việt Nam vẫn là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á và xếp thứ năm thế giới.

[2] Trên website baomơi.com đưa tin: hàng loạt biển quảng cáo dịch vụ nạo – hút thai cở lớn tập trung ở khu vực đường Giải Phóng, đường Phùng Hưng – Hà Đông thành phố Hà Nội. (nguồn: http://www.baomoi.com/Ha-Noi-Nhan-nhan-dich-vu-nao-hut-thai/82/9721224.epi)

[3] xem Ronald L. Conte Jr, “abortion and excommunication”, www.http://www.catholicplanet.com đăng ngày 20/05/2004.

[4] GLHTCG số 2272

[5] GLHTCG 2270-2275.

[6] Thông điệp (Humanae Vitae) Đời Sống Con Người số 57.

[7] Giáo Luật 1983 điều 1329 §2

[8] Xem Catholics and abortion, Notes on Canon Law No.1, đăng trên website: http://cath4choice.org

[9] Xem điều luật 1041 số 4

[10] Xem điều luật 1029: ứng sinh linh mục cần có đức tin tinh tuyền, ý hướng ngay lành, kiến thức cần thiết, danh thơm tiếng tốt, đức hạnh vẹn toàn, nhân đức vững vàng và các đức tình khác về thể lý cũng như tâm lý phù hợp với chức thánh sẽ lãnh nhận.

[11] Theo cách nói của Gioan Phaolô II trong Evangelium Vitae, số. 19


Nguồn: daichungvienvinhthanh.com
Đọc tiếp »