Đừng nhẫn tâm, Em ơi!

BVSS (22.7.2016) – Em ơi! Nếu phải chọn lựa lẽ sống, xin em đừng bao giờ đánh mất tình yêu của mình! Chắc em sẽ chẳng hiểu được nỗi đau tột cùng của Đấng đã tạo tác nên em, khi em nhẫn tâm phá vỡ tình yêu mà lẽ ra con của em phải được hưởng. Em cũng không hình dung được mình đã tàn nhẫn như thế nào, khi sẵn sàng cho một sự giết hại, mà đối tượng có ai khác là đứa con của mình. Điều gì to lớn tác động trên em đến nỗi em phải đánh đổi tất cả? Điều gì có sức mạnh đến độ tiêu diệt cả tình mẫu tử trong em? Và điều gì đã khiến em mất hết nhân cách của một con người?



Danh dự ư? Đó là điều đáng quý khi em biết trân trọng trước mọi hành động của mình. Khi đến với người yêu của mình, em có đặt danh dự của một người con gái biết gìn giữ sự trinh khiết trên mọi việc làm của mình không? Em có biết khuyên lơn người yêu của em cùng vun đắp một tình yêu trong sạch và tinh tuyền, cho đến khi cả hai cùng tiến lên bàn thờ để thề hứa trước mặt Chúa không? Đó là danh dự đấy em ạ! Một khi em đã sai đường, thì danh dự duy nhất mà em cần phải gìn giữ, chính là danh dự của một người mẹ sẵn sàng đón nhận đứa con của mình với tất cả tình yêu, bất chấp sự chê cười của bàn dân thiên hạ. Và đó cũng là danh dự mà Thiên Chúa ban cho tất cả mọi phụ nữ khi trao cho họ thiên chức làm mẹ. Như vậy, em đừng vì xấu hổ do lầm lỗi của mình, hay vì bị thúc ép bởi những thế lực bên ngoài mà đánh mất chính mình. Cái xấu hổ có thể qua đi, thế lực bên ngoài chỉ một sớm một chiều, còn lương tâm của em là tiếng nói nhắc nhở em suốt cả cuộc đời. Em sẽ chẳng bao giờ nguôi ngoai khi nhẫn tâm giết chết con mình. Hãy dừng lại đi em! Hãy suy nghĩ chín chắn hơn nữa đi em! Và hãy tha thiết cầu xin Chúa giúp sức cho em vượt qua mọi điều tiếng của miệng lưỡi người đời, để em hiểu thiên chức làm mẹ cao quý là dường nào!

Khó khăn vật chất ư? Chẳng lẽ cái lý do đơn giản đó lại là cái quyết định đến mạng sống của một con người sao? Chẳng lẽ em lại ích kỷ đến độ chẳng dám hy sinh những nhu cầu của cá nhân mình để con em được mở mắt chào đời sao? Vẫn còn đó những con người sẵn sàng ra tay giúp đỡ em! Vẫn còn đó những tấm lòng luôn rộng mở để hỗ trợ em! Và trên hết là ánh mắt của Thiên Chúa ngày đêm dõi theo em để cứu giúp em! Em ơi, chẳng gì có thể ngăn cản tình mẫu tử một khi em có tình yêu! Hãy yêu đứa con em đang cưu mang với tất cả con người của mình và hơn thế nữa, em nhé! Đừng chỉ yêu bản thân mình mà đánh mất mọi sự! Tình yêu em dành cho con của mình sẽ luôn là động lực giúp em vượt qua mọi khó khăn, và làm cho em thấy rằng: Cần phải biết trân trọng mạng sống con người, vì đó là công trình tạo tác của Thiên Chúa.

Bào thai em đang cưu mang không phải là một con người ư? Tội lỗi đã làm cho em mê muội đến độ không còn nhận biết con người được tác thành như thế nào sao? Hay vì những thú vui trần gian đã làm cho em mất hết khả năng đón nhận tri thức, đạo đức, luân lý và tình cảm mà Đấng Tạo Hóa đã trao ban cho em? Em hãy nhớ rằng: Việc em chào đời không phải chỉ do tình yêu của cha và mẹ em, mà còn phải có sự tác thành của Thiên Chúa nữa. Chính bàn tay Chúa đã kết hợp hai nhân tố ấy nên một, để em được hình thành trong cung lòng mẹ. Em đã là con người từ giây phút ấy! Đứa con em đang cưu mang cũng đã là một con người! Vì thế, em đừng dứt bỏ như dứt bỏ một cuộc chơi! Hãy dừng lại hành động nhẫn tâm của mình! Hãy nhớ lại em cũng đã được cưu mang trong lòng mẹ như thế! Hãy cho con của em được khóc với những nỗi đau của em, được cười với những niềm vui của em, và được san sẻ cuộc sống với em cách tròn đầy tình nghĩa mẹ con, em nhé!

Em ơi! Trước khi làm việc gì, em đừng quên phải giữ cho mình một tâm hồn trong trắng! Vượt qua được khó khăn chừng nào, em càng thấy được giá trị cao quý của tình yêu chân thật chừng ấy. Đừng để thân xác mình trở nên nặng nề bởi những thú vui chóng qua, hay trở thành sản phẩm của sự mua bán! Đừng phá hủy Đền Thờ của Chúa bởi những tội lỗi của mình! Chúa chẳng bao giờ chấp tội em đâu! Ngài sẵn sàng tha thứ khi em biết quay về! Em hãy cố gắng để đừng dấn sâu vào tội nữa! Những hy sinh của tình mẫu tử là dịp để em được đền bù tội lỗi của mình và sống đúng hơn với phẩm giá con người. Mong em hãy luôn nhớ rằng: Tình yêu Thiên Chúa vượt trên mọi tội lỗi của chúng ta, và Ngài luôn giang rộng vòng tay chờ đón chúng ta quay về. Hãy dừng lại và hãy quay về, em nhé!

Therese Trần Thị Kim Thoa

dongten.net

Hạ viện Ailen bác đề xuất phá thai khi ‘thai nhi bị bệnh hiểm nghèo’

BVSS (18.7.2016) – Hạ viện Ireland đã bác bỏ dự luật cho phép phá thai trong trường hợp thai nhi được chuẩn đoán có ít khả năng sống sót.

Ảnh: Phòng họp Hạ nghị viện Ailen (Irish Times)

Ngày 7/7 vừa qua, 45 trên 95 nghị sĩ Hạ nghị viện Ireland đã phủ quyết một dự luật sửa đổi cho phép phá thai trong trường hợp “bào thai dị thuờng và mắc bệnh chết nguời“.

Các nhà hoạt động Bảo Vệ Sự Sống (tức chống phá thai) đã chỉ ra rằng, trẻ em trong các trường hợp này, thường sống sót sau khi sinh, và một số còn sống khỏe mạnh.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Ireland tuyên bố dự luật là vi hiến.

Tuy nhiên, chính phủ đã không công bố phát ngôn này, và ba bộ trưởng cấp cao của chính phủ đã lội ngược dòng khi bỏ phiếu ủng hộ dự luật.

Hiếp pháp Ailen quy định quyền được sống của các bà mẹ và các thai nhi sắp chào đời của họ là ngang nhau. Tuy nhiên, Tòa án Tối cao đưa ra phán quyết vẫn cho phép phá thai trong một số trường hợp giới hạn.

Bộ trưởng Bộ Y tế Ailen, Simon Harris, một người phản đối dự luật sửa đổi, đã phát biểu trong cuộc tranh luận của nghị viện: “Đừng bao giờ nói rằng một thai nhi trong tình trạng ‘dị thuờng và mắc bệnh chết nguời’ thì sẽ không được chào đời, dù cuộc sống của bé chỉ ngắn ngủi trong vài phút hay chỉ đủ cho một hơi thở hay một nhịp đập trái tim.”

Ông nói: “Nếu một thai nhi vẫn có khả năng được chào đời, thì thai nhi ấy phải được hiến pháp bảo hộ.”

Bà Cora Sherlock, phát ngôn viên của chiến dịch Bảo Vệ Sự Sống, cáo buộc những chính trị gia ủng hộ dự luật sửa đổi đang tiếp tay “gây tổn hại tới các gia đình của những hài nhi trong tình trạng nguy kịch, đặc biệt là những người bị thúc ép phải phá thai.”

Bà Sherlock nói: “Thật đáng lo ngại cách mà một số chính trị gia đang cố gắng đưa ra dự luật, thứ loại bỏ tất cả những bảo vệ pháp lý cho các thai nhi mắc bệnh nặng và cần sự hỗ trợ của chúng ta”.

Ireland hợp pháp hóa việc phá thai vào năm 2013, sau các cuộc tranh luận căng thẳng giữa các nhà lập pháp khiến một vài người trong số đó từ chức, và một bộ trưởng bị sa thải vì không đồng tình ủng hộ việc làm này.

Luật Ailen cho phép phá thai khi tính mạng của người mẹ trong tình trạng nguy hiểm, kể cả trong trường hợp người mang thai nói rằng họ sẽ nghĩ đến việc tự tử nếu tiếp tục mang thai”.

Luật cũng quy định rằng những ai thực hiện hàng vi phá thai trong các trường hợp khác ngoài sự cho phép có thể bị tù lên tới 14 năm.

Cũng theo luật này, các thủ tục đánh giá rủi ro cho tính mạng của thai phụ sẽ khác nhau tùy thuộc vào tình trạng của họ. Một bác sỹ có thể đưa ra quyết định phá thai trong tình trạng khẩn cấp khi tính mạng người mẹ đang nguy kịch.

Nếu có nguy cơ tử vong vì bệnh lý mà tình hình không nguy kịch và thai phụ không có ý định tự tử thì cần phải có hai bác sỹ cùng quyết định. Tuy nhiên, nếu người mang thai có ý định tự tử, họ sẽ được một nhóm ba bác sỹ phỏng vấn, trong đó có hai bác sỹ tâm thần và một bác sỹ sản khoa và tất cả phải đồng thuận.

Thủ tướng Enda Kenny đã hứa sẽ triệu tập một hội nghị công dân gồm các nhà lập pháp và các thành viên công chúng để xem xét các vấn đề phá thai.

Hà An

Truyền thông Thái Hà

Viết cho em bị ung thư quyết cho con mình được mở mắt chào đời!


Em Trâm thân mến,

Biết hoàn cảnh của em trong những ngày qua, ai cũng ngưỡng mộ và tiếp tục cầu nguyện cho mẹ con em rất nhiều. Ngưỡng mộ vì em chấp nhận đau đớn trong căn bệnh ung thư để cho con được chào đời. Và tiếp tục cầu nguyện để mẹ con em có nhiều sức khỏe, có những phép màu trong ngày tháng sắp tới.

Hạnh phúc làm mẹ chưa kéo dài được bao lâu, em nhận được hung tin mình mắc bệnh ung thư phổi. Giai đoạn di căn khiến em trăm chiều đau đớn. Bác sĩ Trần Đức Thọ, Phó khoa gây mê hồi sức cho biết, em vào viện khi thai được 27 tuần, tình trạng sức khỏe yếu, suy hô hấp khó thở, tràn dịch màng tim, màng phổi. Khi biến chứng ung thư đến cực điểm, và cũng là lúc thai nhi được 29 tuần tuổi, 2 ekíp y bác sĩ gồm mổ đẻ và sơ sinh từ bệnh viện Phụ sản Trung ương đành chọn giải pháp tối ưu là mổ bắt con. Trong suốt ca mổ ngày 10-7 vừa qua, vì không thể gây mê và chẳng thể tiêm thuốc an thần nên em tỉnh táo trong đau đớn. Cả ekip bác sĩ mổ cho em đều căng thẳng và sợ rằng mất cả hai mẹ con.

Cùng với mẹ con em, chúng tôi tạ ơn Thượng đế đã gửi đến những y bác sĩ tài ba đức độ. Họ cùng với em dệt nên phép màu: dành lấy sự sống cho em và bé Trần Gấu. Dĩ nhiên đây là ca mổ quá đặc biệt với mọi người. Đặc biệt vì sự sống mong manh của em. Đúng như lời chia sẻ của bác sĩ Nguyễn Liên Phương, người trực tiếp mổ cho em: “Nhìn thai phụ ngồi thở, tôi cảm nhận sự sống của chị rất mong manh có thể đi bất cứ lúc nào nhưng vẫn cố trao đổi về ca mổ với tôi”. Tạ ơn Thượng đế đã cho em và bé được qua khỏi thời khắc thập tử nhất sinh!

Em biết không, nhiều người ngạc nhiên khi em sẵn lòng chấp nhận hy sinh mạng sống mình để con em được sống. Hẳn là tình mẫu tử luôn lớn hơn bất cứ lời khuyên hợp lý nào. Em khước từ mọi lời khuyên phá thai để điều trị hiệu quả cho mình. Cảm ơn lòng quả cảm của em: trước cái chết, em cũng phải cho con mình được sống. Do đó, em quyết cầm cự đủ lâu để hy vọng con em thấy ánh mặt trời. Đúng là tình mẫu tử luôn có sức mạnh phi thường. Chúng tôi đồng cảm với tâm tình của em: “Bác sĩ cứ cố gắng hết sức, được đến đâu thì được, chào đời được thì con em sẽ tự chiến đấu với đời’!” Lời của em thêm nghị lực cho các bác sĩ cố hết sức mình cứu dành lại sự sống cho mẹ con em.

Phép màu đã mỉm cười với hai mẹ con em sau 30 phút chiến đấu với tử thần. Em hạnh phúc nhìn thấy con mình được cất tiếng khóc chào đời. Tuy bé Trần Gấu còn quá yếu, nhưng hy vọng tình yêu sẽ cho con em đủ sức để vượt qua. Chắc hẳn con em sẽ nhớ lắm thời khắc mẹ trao lại sự sống cho mình! Nằm trong lồng ấp lúc này, ước gì con em luôn an mạnh để ước mơ của em lớn lên trong người con mà em hằng yêu mến.

Cảm ơn mẫu gương tuyệt vời của em về tình mẫu tử thiêng liêng. Em yên tâm, chúng tôi tiếp tục cầu nguyện cho mẹ con em thật nhiều. Bệnh ung thư không ai ưu thích và cũng chẳng ai dám nghĩ tới, em nhỉ?! Tiếc là nó đã tàn phá tuổi xuân thì của em. Ước mong Thượng đế luôn cho em bình an để đón nhận tất cả. Rồi mai đây, khi con em lớn lên, bé luôn ngưỡng mộ em: một người mẹ tuyệt vời!

Qua mẫu gương của em, mong sao các thai phụ luôn biết yêu quý bào thai của mình. Ước mơ tệ nạn phá thai hay vứt bỏ con mình không còn xảy ra trên quê hương mình nữa. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tình mẫu tử luôn chiến thắng mọi gian nan thử thách. Bởi đơn giản người con nào cũng cần vòng tay yêu thương của mẹ cha. Lúc này, chúng tôi hết lòng chia sẻ nỗi đau bệnh của mẹ con em. Van xin Thượng đế ban cho mẹ con em được nhiều bình an hạnh phúc! Cố lên, chúng tôi luôn đồng hành với gia đình em trong lời cầu nguyện!
Thân chào mẹ con em,

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J

Nguồn: dongten.net

Đức khiết tịnh là gì, có ý nghĩa như thế nào?

Khiết tịnh hoặc trinh tiết liên quan hành vi tình dục của nam giới hoặc nữ giới được chấp thuận theo tiêu chuẩn luân lý và văn hóa, văn minh hoặc tôn giáo. Trong thế giới Tây phương, giới hạn này được kết hợp (và thường được dùng hoán đổi nhau) với sự kiêng cữ tình dục, nhất là trước hôn nhân. Tuy nhiên, giới hạn này vẫn phù hợp với mọi người ở các quốc gia, độc thân hoặc kết hôn, giáo sĩ hoặc giáo dân, và có liên quan vượt ngoài sự chừng mực về giới tính.

Trong Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, và Bahai giáo (Baha’i), các hành vi tình dục đều được giới hạn trong hôn nhân. Với những người chưa kết hôn, khiết tịnh được đồng hóa với sự tiết chế tính dục. Các hành vi tình dục ngoài hôn nhân, như ngoại tình, gian dâm (thông dâm) và mại dâm, đều là tội lỗi.



Theo truyền thống Kitô giáo, khiết tịnh đồng nghĩa với sự thuần khiết về giới tính. Khiết tịnh nghĩa là không có mối quan hệ tình dục nào trước hôn nhân. Điều này cũng có nghĩa là sống chung thủy với chồng hoặc vợ trong hôn nhân. Theo luân lý Công giáo, khiết tịnh được đặt đối nghịch với tội dâm dục, và được coi là một trong bảy nhân đức (*). Kiềm chế ham muốn tình dục được coi là nhân đức. Lý do là ý và ham muốn có thể kết hợp hài hòa với nhau để làm điều tốt.

Quan điểm của Ấn giáo (Hinduism) về tình dục trước hôn nhân có nguồn gốc từ khái niệm về các giai đoạn của cuộc đời. Giai đoạn thứ nhất gọi là Brahmacharya, nghĩa là trinh khiết. Sự độc thân được coi là động thái thích hợp cho cả nam và nữ trong giai đoạn này, giai đoạn tiền hôn nhân. Nhiều tu sĩ Ấn giáo (Sadhus) cũng sống độc thân theo luật nghiêm ngặt. Theo Ấn giáo, việc giao cấu được coi là hành vi thánh của sự sinh sản trong hôn nhân.

Mặc dù các tín đồ Do Thái giáo theo hệ phái Digambara đều sống độc thân, nhưng đa số những người theo đạo Giana (Jains) đều thuộc về hệ phái Shvetambara, được phép kết hôn và sinh con. Đạo đức của đạo Giana đòi hỏi người ta không được làm hại các sinh vật từ trong tư tưởng, lời nói hoặc hành động. Ngoại tình là vi phạm thỏa hiệp luân lý với người phối ngẫu, do đó mà bị cấm, còn gian dâm cũng bị coi là vi phạm tình trạng trinh khiết.

Các giáo huấn của Phật bao gồm Noble Eightfold Path (tạm dịch: Bát Quý Đạo), gồm sự phân chia gọi là “hành động đúng”. Theo Ngũ Huấn (Five Precepts) về đạo đức, các thiện nam tín nữ theo Upāsaka và Upāsikā nên tránh phạm tội về tính dục, còn các tu viện theo Bhikkhu và Bhikkhuni phải giữ khiết tịnh nghiêm ngặt.

Ngũ Huấn của Lão giáo (Taoism hoặc Daoism) bao gồm luật cấm hành vi tính dục, được hiểu là cấm tình dục ngoài hôn nhân đối với các tín đồ, và cấm tình dục đối với các tu sĩ.

Chân phước Mẹ Teresa Calcutta nói rằng tặng phẩm quý giá nhất mà bạn có thể trao cho người phối ngẫu trong ngày cưới là sự trinh tiết. Hãy suy nghĩ về điều đó. Bạn không thể là người duy nhất trên thế giới này có thể trao tặng món quà đó sao? Món quà như thế rất đặc biệt, quý giá hơn cả vàng bạc, thế nên bạn muốn nâng niu nó và bảo vệ nó bằng mọi cách. Bạn chỉ có thể trao món quà này một lần mà thôi, vì thế mà người chồng hoặc người vợ tương lai của bạn chắc chắn là người duy nhất trên thế giới xứng đáng nhận món quà đó một cách trọn vẹn là chính con người của bạn – cả tâm hồn và thể xác.

Nếu các bạn trẻ có quyết định này sớm để giữ trinh tiết cho tới khi kết hôn, họ không phải đối mặt với nỗi giằng co. Họ biết mục đích của mình và sẽ vui lòng làm mọi cách để đạt được ước muốn tốt lành. Họ sẽ cẩn trọng ở mọi nơi và mọi lúc. Họ sẽ đề phòng những chước cám dỗ, mọi tình huống khó khăn, và chuẩn bị tốt để tránh né. Họ sẽ thoải mái trưởng thành và tìm kiếm kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa dành cho cuộc đời họ. Họ sẽ không lo lắng về chuyện có kinh nguyệt “trễ”, mang thai, phá thai, ngừa thai, bệnh hoa liễu, bệnh AIDS, và các hậu quả khác về thể lý, tâm lý, tình cảm và tâm linh đối với việc “ăn cơm trước kẻng”. Họ thực sự tự trọng và tôn trọng người yêu, họ tin rằng họ sống theo cách làm đẹp lòng Thiên Chúa. Họ sẽ bảo vệ và tự cứu mình vì người mà Thiên Chúa đã chọn làm người bạn đời nếu hôn nhân là ơn gọi của họ.

Các bạn trẻ nghĩ gì về những điều như vậy? Họ có bao giờ nghe nói tới “trinh tiết”, “khiết tịnh”, “trong sạch”, “thùy mị” hoặc “tự chủ”? Phải chăng các từ ngữ này nghe y như là “ngoại ngữ” vì chẳng có ai sử dụng? Món quà quý giá này là trao tẳng cả con người mình không đáng để giữ riêng cho người phối ngẫu chăng? Thiên Chúa muốn như vậy. Ngài nói với chúng ta rằng đây là điều mà Ngài muốn ở chúng ta vì Ngài yêu thương chúng ta. Và Ngài trao ban cho chúng ta mọi ân sủng cần thiết để chúng ta có thể đạt được đức khiết tịnh.

Điều này rất quan trọng đối với các cha mẹ, trường học và nhà thờ, phải dạy các điều chân thật một cách rõ ràng và động viên lẫn nhau. Nếu không, các bạn trẻ sẽ chẳng bao giờ nghe được những điều này hoặc biết chân lý của Thiên Chúa, vì những điều đó không hề có trên radio, ti-vi, phim ảnh, âm nhạc, mà thế giới cũng không yêu thương hoặc quan tâm chăm sóc trẻ em. Thế nên nhiều bạn trẻ không còn trinh tiết và cũng chẳng tự trọng, vì họ tin rằng nói dối là điều tất nhiên của thế gian. Chúng ta phải cho họ niềm hy vọng và sự tự do của “sự trinh tiết thứ hai”. Họ có thể xin Thiên Chúa tha thứ và được tha thứ. Họ có thể “tái khởi đầu” và thề hứa giữ đức khiết tịnh cho tới lúc kết hôn. Họ cần có cơ hội và sự động viên để bắt đầu lại và thay đổi nhờ Hồng ân của Thiên Chúa.

Nếu chúng ta nhận thấy hôn nhân và tình nghĩa phu thê là phần thánh thiện trong kế hoạch của Thiên Chúa, chúng ta có thể hiểu được tầm quan trọng của đức khiết tịnh. Sự khiết tịnh bảo vệ người ta, củng cố người ta, xây dựng tính cách của người ta, động viên người ta kiềm chế, truyền cảm hứng để người ta tôn trọng, bảo đảm sự tự do, chống lại tính ích kỷ, và thích hợp với mọi người. Không dễ giữ đức khiết tịnh, nhưng có thể giữ được nhờ ơn Chúa. Đức khiết tịnh tái củng cố hôn nhân và làm cho mối quan hệ phu thê tốt đẹp, đặc biệt và thánh thiện. Tính thánh thiện của việc hợp tác với Thiên Chúa trong công cuộc sáng tạo của Ngài là tạo những sinh linh mới, đó là tặng phẩm quý giá chỉ nên chia sẻ trong sự an toàn của mối quan hệ yêu thương, đại lượng và thề hứa. Đó là cách của Chúa, và điều đó xứng đáng chờ đợi, bởi vì tặng phẩm hoàn hảo của tình yêu thuần khiết mà cô dâu và chú rể trao cho nhau trong ngày cưới thực sự là món quà quý giá vô cùng.

TRẦM THIÊN THU Chuyển ngữ

_______________________________

(*) Theo Giáo lý Công giáo, bảy nhân đức liên quan việc kết hợp của 4 nhân đức chính (thận trọng, công bình, kiềm chế, và can đảm) và 3 nhân đức đối thần (tin, cậy, mến). Các nhân đức này được các Giáo phụ gọi là bảy nhân đức. Sau đó một danh sách khác được phát triển, đôi khi gọi là “bảy thiên đức” (seven heavenly virtues), được đề nghị bởi một thủ lĩnh Kitô giáo tên là Aurelius Prudentius (mất khoảng năm 410 sau công nguyên) trong bài thơ “Psychomachia” (Cuộc Chiến Của Linh Hồn) do ông sáng tác. Bài thơ này có ghi bảy nhân đức đối lập với bảy tội trọng. Các nhân đức đó là Khiết tịnh, Tiết chế, Bác ái, Chuyên cần, Kiên nhẫn, Tử tế, và Khiêm nhường.

Mẹ từ chối phá thai, con trở thành linh mục và giúp mẹ được gặp Đức Thánh Cha

Đức Thánh Cha Phanxicô hôm 3/6 vừa qua, đã có cuộc gặp riêng với mẹ của một linh mục từng từ chối phá thai, bất chấp người con của mình có thể bị dị tật. Đó là bà Sarah Figueiredo, mẹ của Đức ông Anthony Figueiredo.

Đức Thánh Cha Phanxicô gặp Đức ông Anthony Figueiredo và mẹ là bà Sarah tại nhà khách Thánh Marta ở Vatican, ngày 3/6/2016. Ảnh: Đức ông Figueiredo

Đức Thánh Cha Phanxicô gặp Đức ông Anthony Figueiredo và mẹ là bà Sarah tại nhà khách Thánh Marta ở Vatican, ngày 3/6/2016. Ảnh: Đức ông Figueiredo

Vào thời kỳ mà việc sử dụng thuốc Thalidomide – một loại thuốc an thần gây buồn ngủ – đang là xu thế, thì bà Sarah Figueiredo đang mang thai Anthony, là người con thứ tư và cũng là con út của bà.

Thuốc Thalidomide được phát triển từ sau Thế Chiến thứ II, người ta phát hiện ra rằng nó không chỉ chữa mất ngủ mà còn giúp các phụ nữ mang thai giảm ốm nghén. Các bác sĩ khắp nơi trên thế giới đã kê đơn Thalidomide một cách rộng rãi cho các thai phụ như một loại thuốc an toàn.

Vào thời gian đó tại Nairobi (Kenya), bà Sarah đang là trụ cột của gia đình nhỏ, và bà là một trong số những phụ nữ mang thai được kê đơn cho dùng Thalidomide.

Mãi đến năm 1961, người ta mới phát hiện ra rằng thuốc Thalidomide gây dị tật bẩm sinh nghiêm trọng cho các thai nhi. Nhiều trẻ sinh ra đã mắc chứng phocomelia (quái thai ngắn chi), khiến chân tay không có hoặc ngắn hơn bình thường hoặc bị dính ngón. Đến năm 1962, Thalidomide bị thu hồi khỏi thị trường.

Khi các bác sỹ phát hiện ra rằng con trai chưa sinh của bà Sarah có thể mắc dị tật, họ đã khuyên bà phá thai. Tuy nhiên bà Sarah và chồng, cả hai đều là tín hữu Công giáo sùng đạo, đã khước từ đề nghị này. Bà Sarah tin rằng con trai mình có “sứ mệnh đặc biệt”.

Con trai bà – hiện giờ đã là Đức ông Anthony Figueiredo, 52 tuổi – kể lại, bố mẹ ngài đã nói với các bác sĩ rằng: “Nếu Thiên Chúa cho chúng tôi có con, thì chúng tôi sẽ không bỏ đi đứa trẻ. [Và vì Thiên Chúa cho chúng tôi có con nên] ngài có một sứ mệnh dành cho đứa trẻ, và khi ấy họ tin chắc chắn rằng tôi sẽ trở thành một linh mục.”

Đức ông Figueiredo nói rằng, cha mẹ ngài đã không nói gì về áp lực phá thai từ các bác sỹ, cho đến ngày ngài được thụ phong linh mục, thì họ mới kể chuyện gì đã xảy ra.

Mặc dù có cánh tay bị dị tật, Đức ông Figueiredo đã được thụ phong linh mục vào năm 1994. Ngài có nhiều kinh nghiệm trong việc truyền giáo và nền tảng học vấn uyên thâm về thần học. Ngài còn là linh hướng cho hàng trăm chủng sinh đang theo học tại Giáo hoàng Học viện Bắc Mỹ ở Rôma, cố vấn cho các hồng y soạn thảo các bài viết và phát biểu, cũng như làm việc thân cận với Đức Thánh Cha.

Ngài đã từng gặp Mẹ Têrêsa, và đóng vai trò trợ lý cá nhân cho Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng như Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trong nhiều năm.

Ngài rất tín nhiệm cha mẹ mình và đức tin của họ đã cổ võ cho ơn gọi của ngài. Đức ông nói với CNA rằng, họ “không bao giờ làm tôi nhụt chí khi tôi muốn trở thành một linh mục.”

Bà Sarah, 84 tuổi, nói với CNA rằng bà và chồng mình đã cầu nguyện cho một trong ba người con trai của mình trở thành linh mục. Bà biết rằng lời cầu nguyện này sẽ thành sự với Anthony.

Trong số “rất nhiều hồng ân” khi có con làm linh mục, có lẽ một trong những hồng ân lớn nhất đối với bà Sarah là chuyến đi của bà tới Rôma, để thăm con trai trong ba ngày dành cho các Linh mục trong Năm Thánh (từ 1-3/6 vừa qua).

Đức ông Figueiredo nói, chính Đức Thánh Cha Phanxicô đã gọi điện trước và nói ngài muốn gặp mẹ của đức ông tại Nhà khách thánh Martha hôm 3/6, là nơi giáo hoàng hiện đang cư trú.

Chính Đức Phanxicô đã “sắp xếp mọi thứ” cho cuộc gặp hôm 3/6. “Thật tuyệt vời, ngài tiếp đón mẹ tôi với phong cách của một linh mục giáo xứ bình thường”. Đức ông Figueiredo nói

Đức Thánh Cha Phanxicô cũng ban Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân cho bà Sarah, người đã hai lần đột quỵ trong những năm gần đây. Năm 2010, bà còn được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú giai đoạn 4, nhưng giờ đây căn bệnh ung thư đã không còn.

Đức Thánh Cha “từ tốn, không vội vã và rất nhân hậu”, vị linh mục nói và kể lại, khi mẹ ngài cố gắng đứng lên để được xức dầu, thì Đức Phanxicô nói với bà hãy ngồi xuống và tự mình đứng dậy.

“Tôi nghĩ điều đó thật tuyệt vời. Ngài không tỏ vẻ quyền lực. Ngài thực sự là một tôi tớ, tôi tớ của các tôi tớ của Thiên Chúa. Chúng tôi rất xúc động trong ngày hôm đó.”

Người mẹ của vị linh mục đã rất cảm kích vì cơ hội được gặp giáo hoàng. Bà cũng đưa ra lời khuyên với các bậc cha mẹ đang hy vọng con mình sẽ có ơn gọi làm tu sĩ. Bà nói, “bạn càng cầu nguyện thì tốt hơn.”

Ngay cả ở tuổi 84, bà Sarah vẫn tiếp tục lần chuỗi Mân Côi hàng ngày. Bà đặt chuỗi hạt dưới gối của mình để nếu có thức dậy vào ban đêm, bà có thể đọc một chục kinh trước khi ngủ trở lại.

Hà An

Theo Truyền thông Thái Hà

Ảnh hưởng của giáo lý Công Giáo đối với vấn đề hôn nhân gia đình ở Việt Nam


Người tín đồ Công Giáo trong cuộc đời theo đạo của mình được thể hiện ra ở nhiều cấp độ: Theo đạo, giữ đạo và sống đạo. Sống đạo bây giờ cũng đòi hỏi những mức độ khác nhau: Sống đạo theo lề luật và sống đạo theo môi trường văn hóa , xã hội. Người Công Giáo ở khu vực châu Á được kêu gọi “Sống đạo theo cung cách Á châu” (Ecclesia in Asia, số 10), còn người Công Giáo Việt Nam được mời gọi: “Sống đạo theo cung cách Việt Nam” (Thư chung 2003, số 9). Chính sự sống đạo này làm thay đổi diện mạo đạo Công Giáo và cũng ảnh hưởng sâu rộng tới văn hóa xã hội của nhiều quốc gia. Chúng ta hãy cùng nghiên cứu sự ảnh hưởng của giáo lý Công Giáo đến vấn đề hôn nhân và gia đình ở Việt Nam.


1- Giáo lý Công Giáo về hôn nhân và gia đình


Hôn nhân là một vấn đề quan trọng đối với Giáo Hội Công Giáo nên đã được nâng lên thành 1 trong 7 Bí tích thánh. Sách giáo lý viết: “Hôn phối là nhiệm tích do Chúa Giêsu lập để kết hợp hai người tín hữu, một nam, một nữ thành vợ chồng trong tình yêu thương, đồng thời ban ơn cho họ để họ xây dựng gia đình hạnh phúc và sinh sản con cái, góp phần vào công cuộc tạo dựng của Thiên Chúa và xây dựng gia đình nhân loại mỗi ngày mới tốt đẹp hơn” (1).

Bộ Giáo luật năm 1983 dành hẳn một dung lượng rất lớn là đề mục 7 với 111 điều từ điều 1055 đến điều 1165, để quy định về hôn nhân và gia đình, đấy là chưa kể phần tố tụng, tòa án hôn nhân 37 điều từ 1671 đến 1707, trong khi toàn bộ Giáo luật chỉ có 1.752 điều.

Quan niệm của Giáo Hội Công Giáo cho rằng hôn nhân là một ơn gọi nên mang tính chất thánh thiêng. Là ơn gọi như các ơn gọi dâng hiến, tu trì nên người Công Giáo không được tránh né mà chỉ có thể đáp : Xin vâng. Theo giáo lý Công Giáo thì người Công Giáo không được phép trốn kết hôn, tránh sinh con cái và xây dựng một gia đình hạnh phúc (trừ những người được ơn gọi dâng hiến).

Hôn nhân Công Giáo là sự kết hợp giữa 1 người nam và 1 người nữ nên không chấp nhận hôn nhân đồng tính cùng giới hay đa thê hoặc đa phu. Giáo Hội lên án một số quốc gia cho phép kết hôn giữa những người đồng tính, mặc dù vẫn tôn trọng họ. Vì vậy đã có nhân viên công quyền sẵn sàng đi tù chứ không làm giấy hôn thú cho người đồng tính. Cũng vì không chấp thuận đa thê nên những người gia nhập đạo Công Giáo mà có nhiều vợ cũng chỉ được phép chọn một bà vợ trong số đó để sống chung. Hôn nhân Công Giáo được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện. Nếu có bất kỳ sự ép buộc hay lừa gạt nào thì hôn nhân đều vô hiệu. Để đảm bảo nguyên tắc này, các linh mục trước khi làm phép cưới phải cẩn thận tra xét đương sự trong tòa giải tội, xem có hoàn toàn tự nguyện không. Nếu phát hiện ra phải dừng việc chứng hôn lại.

Một đặc tính nữa của hôn nhân là sự bất khả phân ly. Điều 1056 của Giáo luật viết: “Những đặc tính chính yếu của hôn nhân là sự đơn nhất và sự bất khả phân ly, những đặc tính này có một sự bền vững đặc biệt trong hôn nhân Kitô giáo, vì có tính cách Bí tích”. Điều này có nghĩa là, hôn nhân Công Giáo buộc cặp vợ chồng phải sống chung thủy với nhau suốt đời và họ không được phép ly hôn để kết hôn với người khác. Nếu vì lý do đặc biệt, họ không thể sống chung cùng nhau thì chỉ được phép ly thân mà thôi. Giáo lý Công Giáo khuyên mọi người sống tiết dục (các bậc tu trì phải khấn khiết tịnh), cả trước, trong và sau hôn nhân để đảm bảo thủy chung suốt đời. Kinh thánh nhiều lần nhắc đến quy luật này. Chính Đức Giêsu khi trả lời những người biệt phái: có được phép ly dị vợ vì bất cứ lý do nào không? Ngài đáp: “Các ông chưa đọc thấy chép rằng: từ đầu, Tạo hóa dựng nên người nam và người nữ. Vì thế, người nam sẽ bỏ cha mẹ, mà quyến luyến vợ mình, và cả hai sẽ thành một thể xác mà thôi. Như thế, không còn là hai thể xác, nhưng là một mà thôi. Vậy điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, thì loài người không được phân ly” (Mt 19,6).

Về gia đình, Giáo Hội Công Giáo cũng coi gia đình là tế bào của xã hội và là Hội thánh tại gia. Sách giáo lý viết: “Gia đình được định nghĩa là một cộng đồng hiệp thông các ngôi vị, là tổ ấm trong đó mọi người cùng chung với nhau mọi sự, mọi người cùng chung đóng góp, cùng chia sẻ và cùng chung trìu mến thông cảm sâu xa. Sở dĩ gia đình Kitô giáo được gọi là một “Hội thánh tại gia” là vì mỗi gia đình Kitô hữu là một sự bày tỏ và thể hiện niềm hiệp thông trong Hội thánh” (2). Gia đình Công Giáo có nhiệm vụ sống theo gương 5 chuyên của cộng đoàn Hội thánh nguyên thủy là chuyên cần giáo lý, vững chí hiệp thông, bền lòng phục vụ, vui thú nguyện cầu và cùng nhau làm chứng. Giáo Hội đề cao những cử chỉ âu yếm, thân mật giữa vợ chồng và buộc tội người vợ hay chồng nếu từ chối những cử chỉ đó mà không có lý do chính đáng. Bổn phận của vợ chồng là sinh sản con cái không phải theo mục đích thông thường là nói dõi tông đường mà là cộng tác với Thiên Chúa trong công trình tạo dựng vũ trụ. Hiến chế “Gaudium et Spes” (Vui mừng và Hy vọng) số 50 viết: “Hôn nhân và tình yêu gia đình tự bản tính quy hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái. Con cái là ơn huệ cao quý nhất của hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến tạo hạnh phúc của cha mẹ…Bổn phận truyền sinh và giáo dục phải được coi là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng. Trong khi thi hành bổn phận ấy, họ biết rằng mình cộng tác với tình yêu của Thiên Chúa Tạo Hóa và như trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của Ngài” (3).

Trước đây, trong Kinh thánh có nhắc đến lời chúc phúc cho loài người là “Hãy sinh sản cho đầy mặt đất” nên Giáo Hội cũng không có giới hạn số con của một cặp vợ chồng và khoảng cách giữa các lần sinh. Nhưng sau này, Giáo Hội có hướng dẫn cụ thể cho phù hợp với thời cuộc. Thư chung năm 1992 của các Giám mục Việt Nam viết:

“Trong tình hình dân số hiện nay của thế giới nói chung và nước ta nói riêng, đối chiếu với tình hình phát triển kinh tế, không thể làm theo phương châm của người xưa “trời sinh voi, trời sinh cỏ”, phương châm ấy có giá trị trong thời kỳ nông nghiệp “đất rộng người thưa”, ngày nay, loài người đã đầy mặt đất cần phải tính đến việc nuôi sống và giáo dục những mầm non của loài người. Đàng khác, mệnh lệnh sinh sản cho đầy mặt đất gắn liền với mệnh lệnh làm chủ mặt đất. Muốn thế thì đứa con sinh ra phải được nuôi nấng giáo dục nên người. Điều này đưa chúng ta vào những vấn đề cấp bách và nghiêm trọng hiện nay là vấn đề sinh sản có trách nhiệm và vấn đề giáo dục con cái ” (số 11).

Giáo Hội đưa ra khái niệm “sinh đẻ có trách nhiệm” . Điều này ràng buộc các cặp vợ chồng tự quyết định số lần sinh, khoảng cách giữa các lần sinh chứ không phải ai khác. Họ chịu trách nhiệm điều này trước con cái và trước chính Thiên Chúa.

Để duy trì luật hôn nhân và gia đình, Giáo Hội đã quy định chặt chẽ. Buổi đầu, đạo mới đến Thăng Long, lễ tối chỉ dành cho đàn ông, còn đàn bà, phụ nữ đi lễ ban ngày. Trong nhà thờ chia ra “nam tả, nữ hữu” đề không có chuyện trà trộn nam, nữ chỗ đông người hay thiếu sáng. Tiến trình trước hôn nhân như việc học giáo lý hôn nhân và gia đình cho các bạn trẻ chuẩn bị kết hôn, chuẩn bị làm cha mẹ với thời gian khá dài. Điều 1067 giáo luật nêu: “ Hội đồng giám mục phải ấn định những quy tắc về khảo hạch các đôi bạn, cũng như việc rao hôn phối và về những phương thế thích hợp khác để thực hiện những cuộc điều tra, những việc đó là cần thiết trước khi cử hành hôn nhân; một khi những quy tắc ấy đã được tuân giữ cẩn thận, cha sở có thể tiến hành việc chứng hôn”. Bởi Giáo Hội ý thức rằng, gia đình là tế bào của xã hội thì cũng là cơ sở của Giáo Hội. Nếu hôn nhân tan vỡ không chỉ đương sự rơi vào cảnh xa rời Giáo Hội mà cả đôi bên nội ngoại, con cái cũng rất dễ mất sự hiệp thông với Giáo Hội nữa.

2- Ảnh hưởng của lối sống đạo Công Giáo đến hôn nhân và gia đình

2.1 - Ảnh hưởng trong cộng đồng Công Giáo

Nếu quan sát bên ngoài, thật khó phân biệt người theo đạo Công Giáo và không Công Giáo (trừ người tu hành buộc mang y phục dòng) nhưng nếu đi sâu vào tìm hiểu đời sống của họ thì thấy những nét khác biệt lớn. Việc tuân giữ giáo lý, giáo luật Công Giáo hình thành nếp sống của người có đạo. Nếp sống này chi phối toàn bộ suy nghĩ, hành động và cả thói quen của họ nữa. Người Công Giáo thường sống quây quần trong một khu, một làng ngay cả khi chưa có lệnh phân sáp của triều nhà Nguyễn. Nếu phải di dời đi đâu thì họ giữ nguyên tên làng cũ. Vì vậy có thể thấy tên làng Cầu Cổ, Bùi Chu, Trung Lao…tại vùng đất lấn biển Nghĩa Hưng (Nam Định) hay các xứ Hà Nội, Thái Bình, Bùi Phát, Trà Cổ…tại các tỉnh Đồng Nai, Sài Gòn sau cuộc di cư 1954. Việc co cụm này không chỉ giúp cho họ giữ đạo dễ hơn mà cũng dễ cho con cái khi đến tuổi lớn khôn gặp người có đạo để thành vợ, thành chồng. Tâm sự của các bậc cha mẹ có con trưởng thành thường là “tìm được người có đạo để dễ giữ đạo sau này”. Bởi trước đây, Giáo Hội chỉ cho phép kết hôn cùng đạo. Cho nên mới có câu ca ai oán:

“Amen, lạy Đức Chúa Trời
Cầu cho bên đạo, bên đời lấy nhau”

Chắc chắn, đã có nhiều đôi không lấy được nhau chỉ vì lý do tôn giáo. Trường hợp của vua Bảo Đại được kết hôn với cô Theresa Nguyễn Thị Lan (sau là Nam Phương Hoàng hậu) năm 1934 là trường hợp đặc biệt phải được gia đình nhà gái có thế giá xin tận bên Tòa thánh. Mãi đến khi Công đồng Vatican 2 canh tân mới cho phép kết hôn với người khác đạo. Không phải chỉ ở Huế, mà khắp nơi cộng đồng cả người có đạo và ngoài đạo đều hoan hỉ:

“Quý hồ chàng có lòng thương
Amen mặc thiếp, khói hương mặc chàng”

Nhưng với các bậc cha mẹ thì lấy người đồng đạo vẫn hơn, bởi không lo lắng việc đạo nghĩa của con cháu sau này. Đấy là chưa kể thủ tục hôn phối cho người khác đạo cũng mất thời gian và phức tạp mà nếu không kiên trì, khó có thể đi đến kết quả.

Nam nữ người Công Giáo trong quan hệ yêu đương bị cấm không được quan hệ trước hôn nhân vì tội “ăn cơm trước kẻng” là tội nặng. Họ nhắc nhở nhau:

“Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ
Đôi ta trinh tiết cùng chờ đợi nhau”

Vùng Công Giáo, khi trai gái yêu nhau, ngoài các thủ tục, nghi lễ phần đời, điều lo lắng nhất của hai bên dòng họ là chuyện thủ tục bên đạo. Phải tìm người làm chứng, phải xác nhận của linh mục nơi cư trú về tình trạng tôn giáo, hôn nhân, phải rao nhiều lần (thường là 3 tuần) cho cộng đồng biết nhằm tránh tình trạng hôn nhân cận huyết, bị ép buộc, hay đương sự không phải là đơn thân…Ai mà biết phải báo lại cho linh mục xứ để dừng chứng hôn. Ai biết mà không trình báo cũng phạm tội nặng. Linh mục chứng hôn phải kiểm tra nhiều lần về giáo lý, về tình trạng hôn nhân, giấy đăng ký kết hôn, thậm chí cả sức khỏe sinh sản rồi mới làm lễ chứng hôn. Ngày làm lễ cưới diễn ra rất trang nghiêm, trước mặt cộng đoàn và gia đình với những nghi thức mà giới trẻ hiện nay ưa thích vì có ý nghĩa. Những lời thề hứa của đôi nam nữ trước linh mục và cộng đoàn là ràng buộc họ suốt đời phải thủy chung với nhau. Một người không phải là tín đồ ngoan đạo lắm như nhà văn Nguyên Hồng vẫn phải tuân giữ. Nhà văn Lê Đại Thanh kể lại:

“Có một cô gái đẹp và lãng mạn mê anh vì đã đọc “Những ngày thơ ấu” của anh, nhưng Nguyên Hồng là một núi băng. Phạm Cao Củng, người chuyên viết chuyện kiếm hiệp cho Nhà xuất bản Mai Lĩnh đã rỉ tai Nguyên Hồng:

- Phải thương nó. Nó tương tư cậu…

Nguyên Hồng gặp cô gái xin lỗi và nói:

-Tôi là người Công Giáo đạo gốc. Tôi lại là người cầm bút viết văn dạy người đạo đức. Tôi không thể lừa dối vợ tôi và làm hại đời cô.

Cô này đã khóc và sau đó đi Nam, rồi lấy chồng trong đó nhưng càng cảm phục Nguyên Hồng hơn”(4).

Để giữ giáo luật, nhiều làng Công Giáo cổ đã xây dựng hương ước với những quy định chặt chẽ về vấn đề này. Hương ước làng Vĩnh Trị (Nam Định) viết:

“Làng toàn tòng Công Giáo chỉ được phép nhất phu nhất phụ thôi. Vậy ai còn vợ cả mà lấy vợ hai thì làng không ăn ngôi với nữa để khỏi làm gương xấu cho kẻ khác…

Ai thông dâm với vợ người có đủ chứng cớ thời hương hội lập biên bản phạt người đàn bà 1đ00. Người đàn ông cũng vậy và truất ngôi 5 năm, tái phạm sẽ truất ngôi hẳn. Ai can tội hiếp dâm đàn bà và thông dâm với con gái dưới 16 tuổi; ai thông dâm với người đàn bà đang có tang chồng; anh em họ hàng thông dâm với nhau; con cái thông dâm với cha mẹ thời hương hội lập biên bản phạt 1đ00 và truất ngôi trong làng và hương ẩm hẳn” (5).

Hương ước làng Nam An (Hải Phòng) ghi: “Lại dân toàn tòng, theo luật tôn giáo, không được phép lấy vợ lẽ. Ai phạm tội đến cũng như tội thông dâm, nếu có con thì đứa con ấy cũng như ngoại tình. Con ngoại tình, con vợ lẽ là con giai khi đến tuổi nhập bạ thì phải nộp phạt cho làng là 5đ00” (6).

Chính vì vậy, số vụ ly hôn nơi người Công Giáo không đáng kể. Theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao, những năm 1977-1982, mỗi năm trung bình cả nước có 5.672 vụ ly hôn. Nhưng đến năm 1991 tăng lên 22.049 vụ. Năm 1994 tăng lên 34.376 vụ. Năm 1995 là 35.684 vụ. Như vậy mỗi năm số vụ ly hôn đã tăng từ 10-12%. Tại Hà Nội, năm 2005 có 4.100 vụ ra tòa ly dị. 6 tháng đầu năm 2006 có 2.068 đôi ly hôn. Vậy mà tại làng Trung Thành (xã Hải Vân, Nam Định) nơi có 6.000 giáo dân sinh sống suốt 8 năm (1982-2000) chỉ có 2 cặp bỏ nhau. Ở xứ Hạ Hồi (Thanh Trì, Hà Nội) cũng có 1.500 nhân danh Công Giáo nhưng từ năm 1945 đến nay chỉ có 2 đôi ly thân. Điều này là quý giá và hấp dẫn của hôn nhân Công Giáo.

Các gia đình Công Giáo được dạy dỗ phải yêu thương nhau nên tình trạng đạo đức ở các thành viên tương đối tốt. Không có tình trạng con cái ngược đãi cha mẹ hay cha mẹ ruồng bỏ con cái. Nếu có xích mích, bất hòa thì cả cộng đồng sẽ đến khuyên bảo và tìm cách giúp đỡ vì mọi người coi đó là nhiệm vụ của mình. Các chức sắc khi thấy trong cộng đồng có nguy cơ tôi phạm cũng lập tức cảnh báo, ngăn chặn như việc uống rượu ở Tây Nguyên hay nạn nghiện ma túy ngày nay. Hồng Y Phạm Đình Tụng, trong Thư chung ngày 22-10-1996 đã mời gọi:

“ Tôi khẩn thiết kêu gọi mọi người hãy chung tay, góp sức chặn đứng và tẩy sạch tệ nạn này ra khỏi gia đình và làng xóm chúng ta. Tôi đề nghị các Cha rao giảng về tác hại của tệ nạn này để mọi người hiểu rõ. Mỗi xứ họ cần có kế hoạch điều tra và phát hiện kịp thời số người nghiện hút. Các bậc cha mẹ phải thường xuyên theo dõi con em, không để chúng đi lại những nơi có nguy cơ bị lôi cuốn hay giao tiếp với những con nghiện.

Đối với những người đã trót nghiện, chúng ta hãy lấy tinh thần bác ái khuyên bảo và làm mọi cách giúp đỡ họ cai nghiện càng sớm càng tốt, nếu không bệnh của họ sẽ lây sang người khác một cách nhanh chóng như vết dầu loang”.

Tuy nhiên, giáo lý Công Giáo cũng ràng buộc người tín hữu không được dùng các biện pháp tránh thai nhân tạo. Thông điệp Humanae Vitae (Sự sống con người):

“Cần phải loại trừ tất cả mọi hành động nhằm mục đích hoặc dùng như phương tiện để làm cho không thể sinh sản được như hành động trước khi giao hợp, hoặc đang lúc giao hợp hoặc trong lúc kết quả tự nhiên của việc giao hợp đang tiến triển. Cần phải loại từ việc trực tiếp vô hiệu hóa khả năng sinh sản nơi người nam hay người nữ, bất cứ tạm thời hay vĩnh viễn” (số 14).

Giáo Hội chỉ chấp nhận phương pháp tránh thai tự nhiên theo Ogino-Knauss hay Billings. Nhưng đây là phương pháp cũng không đơn giản, đòi hỏi một quyết tâm rất cao vì vậy nhiều đứa bé vẫn được sinh ra và được gọi là “con của Ogino” và cũng là vấn nạn thường xuyên được gửi đến các tờ báo Công Giáo hay các linh mục và ở các vùng giáo, đây là vấn đề nan giải cho chính quyền khi thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Chính quyền đã dùng đủ mọi cách như phạt hành chính, không cấp giấy khai sinh, cắt chỉ tiêu thi đua nhưng đối với người Công Giáo, luật đạo quan trọng hơn luật đời.

Cũng có người Công Giáo nhất là công chức liều mạng phá thai, điều hòa kinh nguyệt. Thế là họ bị vạ giết người. Mà tội thì có thể tha chứ vạ rất khó tha và không phải giáo sĩ nào cũng được quyền tha vạ khiến họ và gia đình (những người biết sự vụ này mà không can ngăn hay đồng thuận) phải đau khổ suốt đời vì không còn được hiệp thông với Giáo Hội nữa.

Theo nguyên tắc, hôn nhân Công Giáo không cho ly dị, nhưng nếu có tình trạng vợ chồng không thể sống chung được với nhau thì Giáo Hội cho ly thân, nhưng không được phép kết hôn nếu người phối ngẫu với mình vẫn còn sống.Những vợ chồng đã ly dị có thể nộp đơn xin tòa án Giáo Hội tiêu hôn nếu có lý do chính đáng. Có người ly than, chẳng giữ được độc thân, họ đi bước nữa và lập tức bị kết án và không được sống trong ấn sủng của Giáo Hội.

Để giảm thiểu những nỗi đau này, Giáo hoàng Phanxicô mới đây đã cho phép mọi linh mục trong năm Thánh Lòng Thương xót Chúa 2016 đều được quyền tha vạ phá thai và cũng đang xem xét đơn gỉan thủ tục tuyên bố tiêu hôn và thông thoáng hơn đối với người ly dị, tái hôn. Trong Tự sắc Misis Judex Duminus Jesus (Chúa Giêsu thẩm phán nhân từ) mới công bố đầu tháng 8-2015 viết:

“Vì vai trò làm mẹ, Giáo Hội cần thấy có bổn phận, vì sự thiện phải thể hiện sự biện phân thận trọng. Giáo Hội biết rõ tình huống người ly dị tái hôn đi ngước lại Bí tích Hôn phối của Kitô giáo. Tuy nhiên, cái nhìn của Giáo Hội nên xuất phát từ trái tim người mẹ, là trái tim, nhờ được Chúa Thánh thần sinh động hóa, luôn tìm kiếm điều cứu rỗi người ta…Thật vậy, những người này không hề bị vạ tuyệt thông và tuyệt đối họ không bị đối xử như thế: họ vẫn là thành phần của Giáo Hội” (7).

2.2- Ảnh hưởng của giáo lý Công Giáo với hôn nhân , gia đình ra ngoài xã hội

Bị chi phối bởi giáo lý Công Giáo nên nhiều tín hữu có lối sống khiến người ngoại đạo cảm phục. Bác sĩ Trần Hữu Ngoạn- Giám đốc trại phong Quy Hòa, người đã trực tiếp tiêm trực khuẩn Hansen vào người để chứng minh rằng, bệnh phong cùi không lây trực tiếp khi tiếp xúc, giúp xóa đi mặc cảm của cả người bệnh và cộng đồng lúc gặp gỡ với nhau. Ông được đề nghị làm hồ sơ để được phong anh hùng lao động và nhận giải Ghandi với số tiền khá lớn nhưng ông từ chối vì cho rằng, mình là Giám đốc, lại là đảng viên nên phục vụ là trách nhiệm, trong khi đó các nữ tu dòng Phaolô ở trại không lương mà họ còn tận tụy hơn ông, nên họ xứng đáng được khen thưởng hơn ông. Ông nói:

“Họ chấp nhận cuộc sống khổ hạnh, tự nguyện làm những việc thiện một cách âm thầm để phục vụ những người bất hạnh. Họ không muốn những lời ngợi ca tụng. Cuộc sống của họ tuân theo một nguyên tắc thật đơn giản: bàn tay trái không được biết việc làm của bàn tay phải và ngược lại. Nhiều tấm gương của các nữ tu này được bệnh nhân truyền tụng. Họ kể về soeur Charles Antoine, nguyên là Giám đốc trại có lần đến thăm nơi ăn ở của bệnh nhân, thấy hố xí tắc mà không ai dám dọn. Bà liền thọc tay xuống và moi lên những mảnh giẻ mà họ đã vô ý vứt xuống”(8).

Chính vì vậy, sau khi nghỉ hưu, bác sĩ Ngoạn do cảm phục lối sống của các nữ tu mà đã âm thầm trở lại đạo vào năm 2012. Cũng theo giáo huấn của đạo nên người Công Giáo cũng có cách ứng xử khác với những người bình thường. Trường hợp Nam Phương hoàng hậu là một ví dụ. Bà đã sinh cho vua Bảo Đại 5 người con nhưng vua quen kiểu sống đế vương phóng túng nên vẫn đi lại với những người phụ nữ khác. Bà sống ly thân với cựu vua nhưng vẫn luôn quan tâm đến nhà vua. Bà viết thư cho cô Lý Lệ Hà- một hoa khôi xứ Bắc đang chung sống với vua với lời lẽ rất tôn trọng chứ không hề ghen tuông. Thư viết: “Chị ở xa Đức Cựu hoàng hàng mấy vạn dặm trường nhưng chị biết em hết sức chăm sóc Cựu hoàng đế ở Hồng Kông. Chị cầu mong lịch sử mai đây không buông Cựu hoàng. Đức Từ cung Thái hậu và chị trọn kiếp nhớ thương em” (9). Có lẽ cảm kích về hành động này của Nam Phương Hoàng hậu mà về cuối đời, Bảo Đại đã gia nhập đạo Công Giáo với tên thánh là Jean Robert.

Do hôn nhân và gia đình Công Giáo có những ưu thế là bền vững trong khi hôn nhân, gia đình bên ngoài xã hội mỏng giòn dễ vỡ nên có một xu hướng là không ít gia đình bên ngoài Công Giáo tìm kiếm người Công Giáo để kết hôn mặc dù thủ tục để kết hôn với người có đạo khá phiền hà và mất nhiều thời gian phải kiên trì như học hỏi về đạo (lớp tân tòng), học về giáo lý hôn nhân và gia đình (lớp chuẩn bị kết hôn). Đấy là chưa kể đến sự phản đối của gia đình những người trở lại. Giáo sư Nguyễn Khắc Dương, xuất thân từ dòng dõi Nho gia ở Nghệ Tĩnh, đã kể lại việc mình sau khi gia nhập đạo về quê năm 1948 như sau:

“Vừa trông thấy tôi, bà gần như chồm tới và gần như ngã quỵ ôm lấy chân tôi khóc nức nở mà than rằng: Cháu ơi, cô hỏi cháu, cha ông cháu có tội tình chi, mà cháu cúi đầu cho họ dội nước để rửa sạch tội Tổ tông. Thật là nhục mạ đến tổ tiên họ Nguyễn Khắc nhà ta. Chớ cái tội cháu bỏ đạo ông bà, không thờ cúng tổ tiên, thì nói thật, lấy cát chà, dao cạo cũng không sạch, nói gì đến dội nước” (10).

Một trường hợp khác mà Giám mục Allys ở Huế đã kể lại, đó là sự phản ứng của gia đình cô Nguyễn Thị Ngọc năm 1916. Ông viết:

“Khó mà tưởng tượng được sự tức giận của người cha và sự đau khổ của bà mẹ, khi biết rằng con mình đã bỏ trốn. Họ liền cùng với bạn bè đi tìm con. Trong nhiều ngày, họ chạy hỏi nơi này nơi khác và nhất là rình quanh các tu viện mà họ nghi là có con mình đang lẩn trốn. Cuối cùng, họ được thư của Nguyễn Thị Ngọc cho biết mình đang ở trong dòng kín Huế và sẽ không ra khỏi đó cho đến khi thành Kitô hữu…Trước lời tuyên bố đó, bà mẹ nổi giận, gào thét và đe dọa khi thấy con mình không lay chuyển, bà chồm tới, nắm lấy tóc con lôi ra khỏi nhà khách của đan viện. Để chống lại, Nguyễn Thị Ngọc liền nằm xuống đất và làm cho tất cả mọi nỗ lực của người mẹ nóng giận trở thành vô ích” (11).

Số liệu của Giáo Hội Công Giáo cho biết, năm 2006, cả nước có 147.716 người gia nhập đạo thì có 31.576 người lớn xin gia nhập đạo để kết hôn với người Công Giáo, chiếm 1/5. Năm 2000 có 30.096 người lớn rửa tội thì đến năm 2010 số xin nhập đạo là 42.272 người. Tại các giáo xứ, nhất là các nhà thờ ở thành phố, do lượng người di dân đi học tập, công tác, lao động từ nông thôn về đông nên liên tục phải mở các lớp tân tòng và số thanh niên theo học rất đông.

Giáo lý Công Giáo coi phôi thai được hình thành từ sự giao hợp đã là con người nên khi nghe có trường hợp phá thai dù chỉ là điều hòa kinh nguyệt, người Công Giáo cũng tìm gặp những bà mẹ lỡ mang thai đó khuyên bảo giữ cái thai lại. Nếu đương sự không có điều kiện, họ đưa về các nhà mở để chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi mẹ tròn, con vuông. Nhiều nhà mở này được lập ra khắp nơi do các giáo xứ, dòng tu tổ chức. Thậm chí một số cá nhân người Công Giáo cũng làm như vậy. Nước ta được xếp vào một trong 5 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới với khoảng 300.000 vụ/năm thì những hoạt động trên của người Công Giáo rất ý nghĩa. Một số cá nhân người Công Giáo còn đi thu gom những thai nhi từ các bệnh viện, phòng khám tư nhân về khâm liệm, chôn cất tử tế như bà Nguyễn Thị Nhiệm (Sóc Sơn, Hà Nội), ông Nguyễn Văn Bao (Nghĩa Thắng, Nam Định), ông Tống Phước Phúc (Nha Trang, Khánh Hòa)… đã chôn cất cả vạn thai nhi được dư luận khen ngợi vì những cử chỉ nhân văn và chỉ riêng đạo Công Giáo mới có việc làm này.

Giáo Hội cảnh báo xã hội ngày nay là “một nền văn hóa sự chết”, chiết tự từ “Death” (D: Divorce- Ly dị; E: Euthanasia- Chết êm dịu; A: Abortion- Phá thai; T: Total Birth Control: Kiểm soát sinh sản; H: Homosexual union- Kết hôn đồng tính). Một đặc điểm của nền văn hóa sự chết đó là phá vỡ cân bằng tự nhiên về giới tính, lao động mà nhiều nước đang đối mặt khi hàng chục triệu thanh niên không thể lấy được vợ, khi mà số sinh ít hơn số tử gây thiếu hụt lao động trầm trọng như Trung Quốc, Đức , Nhật và cả nước ta nữa. Chính những thách đố này, khiến nhiều xã hội phải quay lại sự cân bằng tự nhiên trong sinh sản. Ngay dự thảo luật về dân số nước ta hiện nay cũng cho phép các cặp vợ chồng tự lựa chọn số con và khoảng cách giữa các lần sinh. Dự thảo này rất giống với quan niệm “sinh sản có trách nhiệm” của Giáo Hội Công Giáo.

Như vậy có thể thấy giáo lý của đạo Công Giáo không chỉ ảnh hưởng đến hôn nhân và gia đình cộng đồng Công Giáo mà càn ảnh hưởng sang cả cộng đồng xã hội nữa. Mặc dù lối sống đó cũng có những điểm gây khó khăn cho tín hữu nhưng ưu điểm nhiều hơn và là điểm sáng của tôn giáo này. Nó chứng minh nhận định của Nghị quyết 25 “Về công tác tôn giáo” của Đảng năm 2003 là đúng đắn: “Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”.

Hà Nội, tháng 9-2015

Phạm Huy Thông
Nguồn: VietCatholic