Quan chức Trung Quốc bị áp hạn ngạch phá thai ép buộc

Đây là một câu chuyện xưa như chính nền kế hoạch tập trung: các lãnh đạo chính trị giao hạn ngạch để cấp dưới đáp ứng, và những người ở tuyến đầu không tránh khỏi việc phải giả mạo dữ liệu, gian lận, và sáng tạo ra các cách để ra vẻ đáp ứng được yêu cầu.
Các cán bộ ở tỉnh Sơn Đông gần đây đã tìm ra cách đạt mức hạn ngạch phá thai ép buộc. Trong ảnh, hàng trăm trẻ em Trung Quốc được cha mẹ chuẩn bị trước một cuộc thi bơi.
(Ảnh: STR/Getty Images)

Gần đây nhất tại huyện Lan Lăng, tỉnh Sơn Đông của Trung Quốc, hiện tượng trên diễn ra dưới hình thức hạn ngạch phá thai: Các quan chức quản lý việc kiểm soát dân số được lệnh rằng họ cần phải thực hiện một số lượng nhất định các ca phá thai ép buộc – điều này gắn chặt với chính sách một con của Trung Quốc – nếu không họ sẽ bị phạt. (Đạt mức hạn ngạch sẽ được thưởng 1.500 nhân dân tệ (5,3 triệu) còn không đạt sẽ bị phạt 2.000 nhân dân tệ (tương đương 7 triệu)

Nhưng nếu thậm chí còn không có đủ phụ nữ mang thai “bất hợp pháp” trong xã, một điều kiện phải có để tiến hành phá thai ép buộc, thì làm thế nào?

Đây là nơi các sáng kiến nảy sinh. Các quan chức tại huyện Lan Lăng và các xã trong huyện này đã nghĩ ra cách, họ chỉ cần chuyển công việc trên cho những người môi giới.

Những người môi giới sẽ thu mua các giấy chứng nhận phá thai từ các huyện khác và bán cho các cán bộ tại huyện Lan Lăng, các cán bộ này sẽ nộp chúng cho cấp trên của họ và được khen ngợi vì đã làm tốt công tác phá thai.


Câu chuyện này đã được Peng Pai, một trang web tin tức trực tuyến đăng tải. Bốn bí thư xã đã nói với trang tin này rằng mỗi người trong số họ đã được giao hạn mức phá thai là 0,4%, có nghĩa là cứ 1.000 phụ nữ trong khu vực, thì phải có 4 ca phá thai được báo cáo.

Trong xã của một quan chức của Đảng có 1.500 phụ nữ, vậy nên hạn mức của ông này là 6 ca. Nhưng chỉ có một phụ nữ trong xã có thai ngoài quy định, cô đã bị phá thai, nhưng cán bộ xã này đã phải mua 5 giấy chứng nhận phá thai khác từ các ca phá thai đã diễn ra tại một bệnh viện cộng đồng ở một nơi khác trong huyện.

“Ban đầu, thông tin phá thai từ một phụ nữ là khoảng 2.000 nhân dân tệ (7 triệu), nhưng sau đó nó tăng lên đến 5.000 nhân dân tệ (17,6 triệu), và cuối cùng là hơn 10.000 nhân dân tệ (35,4 triệu)”, ông Xu (không phải tên thật) nói. Ông này thấy rằng bên môi giới quá vô lý và cố xin từ chức, nhưng được cho biết rằng ông không thể từ chức nếu không đạt mức hạn ngạch.

Bên môi giới đã kiếm các giấy chứng nhận phá thai từ những người phụ nữ đã thực sự phá thai tự nguyện, sau đó tìm một người đàn ông chưa lập gia đình ký một văn bản xác nhận rằng anh này sống với người phụ nữ đó mà không kết hôn – họ thu xếp các giấy tờ, và đưa giấy chứng nhận này cho các bí thư của Đảng.

Tất nhiên, những người này được trả tiền hoa hồng từ khoản tiền thưởng dành cho các cán bộ nói trên.

Frank Fang & Matthew Robertson, Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh
Mai Lan biên dịch

Nguồn: Đại Kỷ Nguyên Tiếng Việt

Hôn nhân Công Giáo, một cuộc sống trong chân lý và tình yêu

Trước hết, người ta có thể nói được rằng, không một vấn đề tôn giáo cụ thể nào lại khó khăn rắc rối và phiền toái, nhưng lại thường được đưa ra mổ xẻ và tranh luận nhiều như vấn đề hôn nhân Công Giáo.Vì thế, khi thảo luận và đưa ra ý kiến về vấn đề quá rộng lớn và gai góc này, nếu người ta chỉ dựa trên nền tảng nhân bản thuần túy và một chiều, chứ không hiểu rõ và có được một cái nhìn toàn diện trên các góc độ đầy phức tạp của nó, và nhất là nếu người ta không nắm vững được các giáo lý của Giáo Hội, người ta sẽ dễ rơi vào các phê phán và nhận định sai lầm và lệch lạc hơn là đúng đắn và nghiêm chỉnh. Do đó, ở đây chúng tôi chỉ muốn đưa ra những góp ý khiêm tốn của mình và ước mong được các độc giả bổ túc thêm bằng những ý kiến đúng đắn cần thiết.


Đức Giêsu và hôn nhân


Khi tìm hiểu vấn đề trong các mặc khải của Kinh Thánh Tân Ước, người ta sẽ tìm gặp được quan điểm rõ ràng của Đức Giêsu về vấn đề hôn nhân mà chúng ta nhất thiết phải coi như những hướng dẫn cần thiết cho những nhận định của chúng ta về hôn nhân. Các giáo huấn của Đức Giêsu soi sáng cho chúng ta nhận định được rằng:

Thứ nhất: Hôn nhân mang trên mình “copyright” – bản quyền, của Thiên Chúa Tạo Hóa. Nói đến hôn nhân là nói tới sự kết hợp bất khả tháo gỡ giữa một người nam và một người nữ, là nói đến sự kết hợp chặt chẽ giữa hai người với nhau đã được chính Tạo Hóa xe kết. “Ngay từ khởi đầu công cuộc tạo dựng, Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ. Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ trở thành một xương một thịt.” (Mc 10,6-8)

Thứ hai: Một khi thực tại “trở thành một xương một thịt” thành hiện thực, thì không có bất cứ quyền lực nhân loại nào có thể xóa bỏ được sự kết hợp ấy. Bởi vì “sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” (Mc 10,9)

Ở điểm này, sự phản ứng bộc phát tự nhiên của các Môn Đệ xưa kia đã biểu lộ rõ ràng sự đồng cảm giàu tính cách nhân loại đối với những người Kitô hữu chúng ta ngày nay. Thật vậy, khi Đức Giêsu nói cho các ông quan điểm dứt khoát của Người về vấn đề hôn nhân, trước tiên các Môn Đệ âm thầm lắng nghe và nín nhịn, mặc dù đối với các ông những lời phát biểu của Chúa về hôn nhân xem ra quá khe khắt. Nhưng khi Thầy trò đã về tới nhà, các ông bèn đưa vấn đề ra tranh luận và xin Đức Giêsu giải thích một cách cụ thể và rõ ràng hơn. Và khi các ông nghe Đức Giêsu vẫn giữ vững quan điểm của Người về vấn đề hôn nhân, các ông đã bắt đầu xôn xao nhỏ to với nhau, đã phản ứng đầy cảm xúc và rất nam tính: “Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ, thì thà đừng lấy vợ còn hơn.”(Mt 19,10)

Nhưng Đức Giêsu đã nói những gì về hôn nhân mà tâm trạng các Môn Đệ đã trở nên rộn ràng và xúc động như thế? Đức Giêsu đã chẳng những khẳng định rằng sự phối hợp hôn nhân là một điều bất khả tháo gỡ, nhưng Người còn quả quyết thêm: “Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình.” (Mc 10,11-12 Và trong Bài Giảng Trên Núi, Đức Giêsu còn thêm: “…ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình.” (Mt 5,32b; Lc 16,18)

Thật ra, khi đọc các Phúc Âm Nhất Lãm – Phúc Âm theo thánh Mát-thêu, thánh Luca và thánh Mác-cô – người ta thấy rằng trên nguyên tắc cả ba thánh sử đều tường thuật lại cùng những lời phát biểu của Đức Giêsu về vấn đề hôn nhân, theo đó Đức Giêsu có một quan điểm rõ ràng và dứt khoát: Người không chấp nhận vấn đề ly hôn hay ly dị. Lý do chính là một khi hôn nhân giữa một người nam và một người nữ đã thành sự thì hôn nhân ấy đã được chính Thiên Chúa chúc phúc và phê chuẩn. Vì thế, hôn ước ấy mang tính chất bền vững và bất khả tháo gỡ cho đến chết, tức chỉ sự chết mới chấm dứt được một hôn nhân Công Giáo đã thành sự.

Trong các Phúc Âm Nhất Lãm, chỉ có Phúc Âm theo thánh Mát-thêu ghi lại một câu phát biểu của Đức Giêsu khiến người ta nghĩ rằng có lẽ Chúa muốn đề cập tới một hình thức đặc biệt cho phép ly thân hay ly hôn, tức trường hợp thất trung của một trong hai người, vợ hay chồng: “Tôi nói cho các ông biết: Ngoại trừ hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình.”(Mt 19,9) Nhưng một điều người ta không tìm thấy trong câu nói ấy của Đức Giêsu là sau khi chia tay giữa hai vợ chồng, họ lại được phép tái lập gia đình với người khác. Dựa vào giáo huấn của Chúa về tính chất bất khả tháo gỡ của hôn nhân, Thánh Phaolô đã khẳng định một cách mạnh mẽ trong Thư Thứ Nhất gửi Cô-rin-thô: “Còn đối với những người đã kết hôn, tôi ra lệnh này: Vợ không được bỏ chồng, nhưng nếu đã bỏ chồng, thì phải ở độc thân hoặc phải làm hòa với chồng; và chồng cũng vậy, không được rẫy vợ.” (1Cr 7,10-11)

Dựa trên những giáo huấn minh bạch và dứt khoát của Kinh Thánh Tân Ước, chúng ta có thể xác định được rằng: Một đàng, đối với Thiên Chúa, sự chia tay giữa hai vợ chồng đồng nghĩa với sự ly hôn hay ly dị là hoàn toàn đi ngược lại với thánh ý và kế hoạch toàn mỹ của Người. Còn Giáo Hội không có quyền thêm bớt hay sửa đổi luật do chính Thiên Chúa đã thiết lập. Đàng khác, theo lời Thư Thứ Nhất của thánh Phaolô gửi Cô-rin-thô vừa trích, chúng ta thấy rằng ngay trong Giáo Hội thời tiên khởi vấn đề ly thân và ly hôn giữa các đôi vợ chồng đã từng xảy ra. Nhưng chính trong những trường hợp ấy, tức sau khi hai vợ chồng đã ly thân hay đã ly hôn, thì họ không được phép tái kết hôn bình thường như những người chưa hề lập gia đình.


Luật Giáo Hội Công Giáo về hôn nhân

Dựa theo các giáo huấn của Kinh Thánh, Giáo Hội Công Giáo đã đưa ra 110 lời hướng dẫn rõ ràng và minh bạch về Bí tích Hôn Nhân như những điều luật cụ thể và mang tính cách bó buộc nhất định, hầu giúp cho các tín hữu của mình hiểu rõ và sống đúng với ý nghĩa Bí tích ấy, để qua đó họ thực sự sống một cuộc sống hôn nhân và gia đình hạnh phúc trong chân lý và trong tình yêu. Sau đây, để giúp quý độc giả hiểu được một cách tổng quát ý nghĩa của hôn nhân theo quan điểm của Giáo Hội Công Giáo, chúng tôi xin trích ba điều luật đầu tiên trong 110 điều luật về hôn nhân ấy trong Bộ Giáo Luật của Giáo Hội Công Giáo, được ấn hành vào năm 1983:

Điều 1055, §1: Do giao ước hôn nhân, người nam và người nữ tạo nên với nhau một cuộc thông hiệp trọn vẹn cả cuộc sống. Tự bản tính, giao ước hôn nhân hướng về thiện ích của đôi bạn và việc sinh sản cùng giáo dục con cái. Đức Kitô đã nâng giao ước hôn nhân giữa những người đã chịu phép Rửa Tội lên hàng Bí tích.

§2: Bởi vậy, giữa những người đã chịu phép Rửa Tội, không thể có khế ước hôn nhân hữu hiệu nếu đồng thời không phải là Bí tích.

Điều 1056: Những đặc tính căn bản của hôn nhân là sự duy nhất và bất khả phân ly. Nhờ tính cách Bí tích, những đặc tính ấy được kiện toàn đặc biệt trong hôn nhân Kitô giáo.

Điều 1057, §1: Hôn nhân thành tựu do sự ưng thuận của đôi bên, được phát biểu hợp lệ giữa những người có khả năng pháp luật; sự ưng thuận ấy không thể thay thế bởi bất cứ một thế lực nhân loại nào.

§2: Sự ưng thuận kết hôn là một hành vi của ý chí, do đó người nam và người nữ trao thân cho nhau và chấp nhận nhau để tạo lập hôn nhân, bằng một giao ước không thể thu hồi được.

Kết hôn trong Chúa

Ở đây chúng ta nhất thiết cần phải thêm rằng điều kiện của tính chất không thể thu hồi được hay bất khả tháo gỡ của hôn nhân Công Giáo là họ phải được kết hôn trong Chúa, tức hôn nhân phải hợp pháp, được cả hai người hoàn toàn tự do đồng thuận, thành sự, được Giáo Hội chứng giám và đại diện Chúa chúc phúc. Theo thánh Phaolô, tất cả mọi Kitô hữu muốn kết hôn hay tái kết hôn một cách hợp pháp và thành sự đều phải thực hiện hôn ước của mình “trong Chúa” (1Cr 7,39). Chỉ những hôn nhân được thực hiện như thế mới thực sự là “đã được Thiên Chúa phối hợp.” Vì thế, những hôn nhân ấy mới mang đầy đủ tính chất “bất khả tháo gỡ.”

Theo thánh Phaolô, chỉ một trường hợp duy nhất được phép ly hôn, đó là nếu một người trước khi được rửa tội mà đã kết hôn với một người ngoại đạo, nhưng khi đã theo đạo rồi mà người chồng hay người vợ ngoại đạo kia đòi ly hôn và không muốn sống đời vợ chồng với người chồng hay người vợ có đạo nữa, thì người vợ hay chồng có đạo này không còn bị ràng buộc bởi hôn ước nữa (x. 1Cr 7,12-16).

Dấu chỉ của một tình yêu vô biên

Một khi hai Kitô hữu nam-nữ đồng ý kết hôn “trong Chúa”, thì hiện thực nơi họ điều thánh Tông đồ Phaolô đã ghi trong Thư Ê-phê-sô: Nếu một người nam và một người nữ thành tâm yêu thương nhau trong Chúa, bấy giờ tình yêu của họ cũng tương tự như tình yêu của Đức Kitô dành cho Giáo Hội, mà Kinh Thánh Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp gọi là “mysterion”, còn tiếng La-tinh gọi là “Sacramentum”, và tiếng Việt gọi là Bí tích thánh, tức “mầu nhiệm cao cả” (x. Ep 5,32). Sự hy sinh của hai vợ chồng Công Giáo cho nhau là một dấu chỉ rõ ràng tình yêu vô biên và sự trung tín tuyệt đối của Thiên Chúa đối với nhân loại. Vâng, đó là dấu chỉ của một tình yêu vô biên!

Dấu chỉ bên ngoài của Bí tích Hôn Nhân hoàn toàn khác với dấu chỉ bên ngoài của các Bí tích khác. Thay vì sử dụng các chất thể như nước, nghi lễ đặt tay, dầu hay bánh, và do vị Linh Mục chủ sự thực hiện như khi cử hành các Bí tích khác, thì khi cử hành Bí tích Hôn Nhân chính hai người nam-nữ liên hệ, với sự trợ giúp của Chúa, là trọng tâm, là những nhân vật chính và đồng thời là những người chủ sự và cử hành. Trong khi đó, những người tham dự việc cử hành Bí tích Hôn Nhân của đôi Tân Hôn – Giáo Hội qua sự đại diện của cộng đoàn các tín hữu hiện diện, của cha mẹ, của bạn bè và của cả vị Linh Mục, v.v… – chỉ có tác dụng là các chứng nhân của việc cử hành ấy mà thôi.

Việc đôi Tân Hôn nam-nữ vừa là những người cử hành và vừa là những người lãnh nhận Bí tích Hôn Nhân mang một ý nghĩa sâu xa và cao cả: Qua sự kiện ấy cả hai người muốn nói lên rằng tình yêu và sự chung thủy mà họ giành cho nhau là một sự nhắc nhở và là một biểu tượng sống động cho tình yêu vô biên của Đức Giêsu, Đấng đã yêu thương nhân loại cho đến chết.

Để dễ hiểu được điều ấy, chúng ta có thể làm một sự so sánh: Nếu người nào đó nghe nói đến tên Romeo và Julia (1) chắc chắn người ấy sẽ nghĩ ngay đến câu truyện tình cảm thời danh trong văn chương nhân loại. Cũng vậy, nếu người nào đó nhìn thấy đôi vợ chồng Công Giáo đầy lòng thương yêu và chung thủy với nhau, người ấy sẽ nghĩ ngay tới tình yêu vô biên và lòng trung thành tuyệt đối của Thiên Chúa. Lời thề hứa hôn nhân Công Giáo khi cử hành hôn lễ “thương yêu và tôn trọng nhau mọi ngày cho đến suốt đời” không chỉ muốn nói đến thời gian sống của đôi vợ chồng trong cuộc sống đời này, nghĩa là hôn ước của họ chỉ chấm dứt khi một trong hai người qua đời. Lời hứa hôn nhân Công Giáo ấy còn mang một chiều kích thâm sâu hơn: Hôn nhân Công Giáo được xây dựng trên nền móng chắc chắn là tình yêu Thiên Chúa, nên luôn bền vững, chứ không có bất cứ nguyên nhân ngoại tại nào có thể xóa bỏ hay làm lung lay được, ngoại trừ sự chết. Cũng như sự chết, tình yêu tự bản chất là một thực tại mang tính cách dứt khoát và thực tiễn.

Vì giao ước hôn nhân Công Giáo là một Bí tích thánh, tức một thực tại do chính Thiên Chúa thiết lập, nên mang tính chất bền vững và bất khả tháo gỡ. Giáo Hội trong thế kỷ XXI này vẫn không thể xóa bỏ hay sửa đổi được tính chất bất khả tháo gỡ ấy của hôn nhân. Do đó, khi người ta vì bất cứ lý do ngoại tại nào mà xóa bỏ một hôn ước hợp pháp và thành sự, tức Bí tích Hôn Nhân, thì người ta đi ngược lại kế hoạch của Thiên Chúa và làm sai lạc bản chất của hôn nhân.

Ở điểm này chúng ta cần nhấn mạnh thêm rằng, sự chung thủy suốt đời không chỉ là một lý tưởng Kitô giáo, nhưng còn là một điều mơ ước và là mục đích thực sự của tất cả những đôi vợ chồng thương yêu nhau chân thành. Đây là điều mà các cuộc thăm dò dư luận nơi các tầng lớp trong đại chúng đã chứng minh một cách cụ thể.

Việc bàn hỏi tại văn phòng giáo xứ

Hôn nhân “trong Chúa” quả thực là mộ lý tưởng cao đẹp. Nhưng ở đây chúng ta quay trở lại với đời sống mục vụ thực tế trong giáo xứ.

Cách đây chưa lâu, tôi ngồi nói chuyện với một đôi vợ chồng còn trẻ, chưa tới ba mươi tuổi, và rất lịch sự tại văn phòng giáo xứ về việc cử hành Bí tích Rửa Tội cho đứa con của họ vừa mới sinh. Họ là đôi vợ chồng không có giấy hôn thú, vì họ chưa công khai làm phép cưới. Phép cưới đời có lẽ không lâu nữa họ sẽ thực hiện. Còn phép cưới đạo họ không được phép làm nữa. Tại sao? Điều gì đã xảy ra cho họ? Lý do là vì người chồng đã một lần làm phép cưới đạo rồi. Chỉ mấy tháng sau khi anh làm phép cưới đạo với người vợ trước, thì người vợ này ngoại tình, và từ đó cô ta đã bỏ đi sống với một người đàn ông khác. Thế là họ ly hôn.

Trong khi nói chuyện với đôi vợ chồng trẻ này, tôi đã bày tỏ sự thông cảm với họ. Vâng, với tư cách là một con người bằng xương bằng thịt bình thường và là một Linh mục Quản xứ tôi cảm nhận được đầy đủ tâm lý đầy thất vọng và nỗi khó khăn cụ thể của người đàn ông trẻ bị vợ phản bội như thế: Làm thế nào một người thanh niên còn trẻ như anh ta có thể tiếp tục sống những năm tháng còn lại của đời anh hoàn toàn trong cô đơn một mình? Anh là một người bình thường và anh mong muốn có được hôn nhân hạnh phúc, nhưng đáng tiếc là hôn nhân của anh đã bị đổ vỡ. Sau đó anh đã từ từ ổn định lại được tâm lý và làm quen được với người vợ mới, và cuộc sống chung với người vợ mới này đã sinh hạ được đứa con đầu lòng rất kháu khỉnh. Trong khi nói chuyện với cả hai người, tôi có cảm tưởng là họ rất thương yêu nhau và họ có thể cùng nhau xây dựng được một tổ ấm gia đình lâu bền và hạnh phúc, và đối với họ đời sống đạo cũng như việc giáo dục con theo đức tin của Giáo Hội là một điều rất quan trọng.

Trong trường hợp này, là một Lm Quản xứ tôi có thể khuyên họ như thế nào đây? Tôi đã nói rõ ràng cho họ biết là trong một trường hợp cụ thể như thế tôi có thể giúp được gì cho họ. Trước hết, điều quan trọng đối với tôi là cho họ biết rõ ràng và đầy đủ về các giáo huấn của Kinh Thánh và của Giáo Hội về hôn nhân. Nếu một phép cưới đạo, tức khi cử hành Bí tích Hôn Nhân, thành sự thì hôn nhân giữa hai người nam-nữ mang tính chất bền vững bất khả tháo gỡ, vì “sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly.” Nhưng khi nghe thế, người chồng đầy suy nghĩ trả lời: “Cha nói đúng. Nhưng còn một điều quan trọng là liệu hôn nhân trước kia giữa con và người vợ cũ có thực sự là do Chúa kết hợp hay không?”

Trước câu hỏi đượm vẻ nghi ngờ về sự hiệu lực của hôn nhân trước kia của anh ta như thế, tôi chỉ có thể góp ý kiến: Nếu dựa theo giáo huấn của Giáo Hội về hôn nhân để suy tư và tìm hiểu liệu một hôn ước có hiệu lực hoặc có thành sự hay không, thì những câu hỏi cần thiết phải được đặt ra, là: Vào thời điểm làm phép cưới đạo liệu hai người có thực sự hoàn toàn tự do để đi tới hôn nhân không? Họ có thực sự muốn sự phối hợp hôn nhân giữa họ luôn bền vững, chung thủy và bất khả tháo gỡ không? Họ có muốn sẵn sàng đón nhận con cái mà Chúa sẽ ban cho họ không? Hai người có thực sự đủ khả năng để sống cuộc đời vợ chồng không?

Nếu đứng trước những câu hỏi này thực sự có sự nghi ngờ, không chắc chắn, khiến họ không thể trả lời “có” được, thì tôi khuyên họ cần phải kiểm xét lại các tình huống và hoàn cảnh khi họ kết hôn một cách cẩn thận, rõ ràng và cụ thể, để có thể nhận định và phán quyết được một cách chắc chắn về hôn nhân của họ, liệu nó có thực sự hiệu lực hay không!

Một điều quan trọng cần lưu ý ở đây! Vấn đề hôn nhân Công Giáo là một vấn đề thần học vừa tín lý vừa luân lý, vì được chính Thiên Chúa thiết lập và được Giáo Hội rao giảng và bảo tồn. Bởi vậy, trong vấn đề giải quyết những khó khăn và bế tắc của hôn nhân không hề có “cửa hậu” mà những tín hữu Công Giáo có địa vị trong xã hội và giàu có với ảnh hưởng và tiền bạc của mình có thể lọt qua được, nhưng mọi giải quyết phải đặt cơ sở trên Kinh Thánh và thần học.

Thật vậy, thủ tục việc hủy hôn hay vô hiệu hóa một hôn nhân Công Giáo là một việc kiểm tra đúng đắn và nghiêm ngặt liệu hôn nhân ấy có thực sự đã được diễn ra theo đúng với luật Giáo Hội hay không. Nếu vào thời điểm cử hành Bí tích Hôn Nhân mà nơi một trong hai người nam-nữ không hội đủ một hoặc nhiều yếu tố chính yếu để làm một hôn ước thành sự, thì việc cử hành Bí tích Hôn Nhân ấy vô hiệu lực, không thành sự.

Dĩ nhiên, diễn tiến làm thủ tục để có thể tuyên bố một hôn nhân Công Giáo vô hiệu lực như thế nhất thiết đòi hỏi phải có thời gian. Đàng khác, những vết thương lòng do sự ly hôn gây ra cho những người trong cuộc thường to lớn và dai dẳng, nên để có được một sự nhận định và một sự phê phán hoàn toàn khách quan, thì ngoài tâm tình nhân bản người ta còn cần phải kiên nhẫn tìm hiểu vấn đề tận gốc rễ một cách kỹ càng và tuyệt đối không thiên vị hay cả nể.

Trở lại câu chuyện của cặp vợ chồng đang xin rửa tội cho con, tôi nhận thấy việc làm thủ tục điều tra sự hủy hôn trước kia của người chồng có lẽ còn hơi sớm. Điều tôi có thể góp ý với họ là trước hết cần nhẫn nại và nhất là cần phải luôn sống đạo sốt sắng, chu toàn các bổn phận hằng ngày của mình một cách cẩn thận và nuôi dạy con cái đúng với các giáo huấn của Giáo Hội. Nếu cả hai vợ chồng luôn biết trung thành sống kết hiệp với Chúa qua kinh nguyện, thì những bước cần thiết tiếp theo chắc chắn sẽ được khai thông.

Trong hoàn cảnh cụ thể của hai vợ chồng không hôn thú này, người ta không thể nói tới một hình thức chúc lành riêng tư và kín đáo nào đó cho “hôn nhân không hôn ước” của họ(2) hay ban phép chuẩn riêng cho họ được rước lễ, những điều hoàn toàn nằm ngoài thẩm quyền của một vị Linh Mục. Bởi vì, Giáo Hội không hề ban phép cho một vị Linh Mục được toàn quyền trong mọi vấn đề đức tin, được toàn quyền làm “người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (1Cr 4,1). Trong lãnh vực tín ngưỡng, cách thức đối xử với một đôi nam-nữ sống đời vợ chồng không hợp pháp, tức ngoài hôn ước hay nói theo ngôn ngữ ngày nay: hôn nhân không giá thú, thì không chỉ cần đầy tình yêu thương và sự cảm thông, nhưng còn cần phải tôn trọng sự thật của các giới răn Thiên Chúa và các giáo huấn của Giáo Hội nữa. Nếu không, sự nâng đỡ của chúng ta giành cho họ không những không mang lại lợi ích cho họ mà còn làm thiệt hại cho hạnh phúc chân thật của họ nữa.

Về hai vợ chồng được đề cập tới ở đây, tôi chỉ có thể quả quyết rằng, cuộc sống vợ chồng của họ là không phù hợp với luật luân lý Công Giáo, nên sớm hay muộn nhất thiết cần phải có một giải pháp hay một sự điều chỉnh khả dĩ, giúp cho họ sống cuộc sống hôn nhân gia đình và cuộc sống đức tin của mình trong an bình và hạnh phúc. Còn đứa con vừa mới sinh của họ hoàn toàn vô tội trong vấn đề “hôn nhân bất hợp lệ của họ.” Qua Bí tích Rửa Tội mà em sắp được lãnh nhận, em sẽ được nhập vào hàng ngũ con cái Thiên Chúa, phần thân thể của Đức Kitô, thành viên của Giáo Hội và được Thiên Chúa chúc phúc. Còn cha mẹ em cũng qua việc cử hành Bí tích Rửa Tội này sẽ cảm nhận được tình thương và sự bao dung quảng đại của Thiên Chúa: Việc cử hành Bí tích Rửa tội mang lại cho họ ơn lành để họ ý thức được trách nhiệm của những người làm cha làm mẹ Công Giáo đối với con cái mình.

Trường hợp hôn nhân hoàn toàn hiệu lực

Khi bàn đến sự hiệu lực của hôn nhân Công Giáo bị đổ vỡ, người ta thường không có chung một cái nhìn. Những người trong cuộc thường trả lời: “Thật ra, trong lễ cưới của chúng tôi mọi sự diễn tiến bình thường, hoàn toàn tốt đẹp. Xưa kia cả hai chúng tôi đều hạnh phúc. Nhưng rồi thời gian đưa đẩy, khiến chúng tôi từ từ sống xa nhau…”, hay: “Chồng/vợ tôi đã từ từ thay đổi theo một chiều hướng khác, không còn như xưa nữa, khiến chúng tôi không thể tiếp tục đời sống vợ chồng với nhau được nữa.”

Trong những trường hợp tương tự như thế, người ta có thể khẳng định một cách khách quan rằng, đó là hôn ước Kitô giáo thành sự hay hoàn toàn hiệu lực; vì thế, mang tính chất “bất khả tháo gỡ”, và sự quan hệ kiểu vợ chồng với một người mới khác là ngoại tình.

Nhưng trên thực tế, rất nhiều người Công Giáo sau khi ly hôn lại đã có sự quan hệ kiểu vợ chồng với một người khác. Sự thể thực tiễn này đòi hỏi phải có một cách giải quyết vấn đề hợp lý và đúng đắn.

Còn Giáo Hội cần phải xử sự như thế nào trong những trường hợp như thế? Đâu là những biện pháp hay đường hướng mà Giáo Hội có thể sử dụng để gặp gỡ và giúp đỡ những người liên hệ một cách hợp tình hợp lý?

Đứng về phương diện Bí tích, khi một hôn nhân Công Giáo đã thành sự mà bị đổ vỡ, thì Giáo Hội cũng không thể làm được gì khác ngoài việc phải xác tín rao giảng và tuân giữ các giáo huấn của Phúc Âm. Còn về phương diện nhân bản, thì chẳng những Giáo Hội xét theo toàn thể cộng đồng các tín hữu, mà từng tín hữu nữa, có rất nhiều điều kiện và phương thế để đỡ nâng và an ủi những người đang phải gánh chịu những tổn thương và những mất mát đầy đau đớn trong cuộc sống hôn nhân và gia đình.

Thật vậy, những gì liên quan đến sự đổ vỡ của Bí tích Hôn Nhân, chúng ta với tư cách là Giáo Hội không được phép rút lại hay sửa đổi lời thề hứa hôn nhân mà hai người nam-nữ đã một lần long trọng thề hứa trước Bàn Thờ Thiên Chúa và trước sự chứng giám của Giáo Hội là trung thành với nhau trọn đời cho đến chết. Trong vấn đề hôn nhân Công Giáo, chúng ta tuyệt đối không được hành động tiền hậu bất nhất, tức khi cử hành hôn lễ thì tuyên nhận “sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”, nhưng sau đó ít năm lại phân ly. Điều Thiên Chúa đã phối hợp, thì cả Giáo Hội cũng không được phép phân ly. Vì thế, giả thử Giáo Hội chúc lành cho hôn nhân của những người đã ly dị nay lại tái kết hôn, hoặc cho phép họ được tự do rước lễ bình thường như các tín hữu khác, thì hành động đó của Giáo Hội hoàn toàn nằm ngoài giáo huấn của Phúc Âm. Điều gì chính Đức Giêsu đã gọi là sự gian dâm hay ngoại tình, thì Giáo Hội không thể phê chuẩn và chúc lành, dù dưới một hình thức tư riêng kín đáo.

Khi Giáo Hội không chấp thuận cho những người Công Giáo đã ly hôn lại tái kết hôn và những người vợ/chồng của họ được lãnh nhận các Bí tích hoàn toàn không phải là một sự trừng phạt hay một sự kết án của Giáo Hội như người ta thường hiểu lầm và phiền trách, nhưng là Giáo Hội phải trung thành với các giáo huấn của Chúa trong Phúc Âm. Sự ngăn cản các đôi vợ chồng hôn nhân không hợp lệ như thế, mà người Việt thường gọi là gia đình rối, lên rước Mình Thánh Chúa không do Giáo Hội đặt ra, nhưng nguyên nhân hoàn toàn hệ tại chính những người trong cuộc. Những quan hệ vợ chồng bất hợp pháp của họ đi ngược lại với giao ước tình yêu giữa Đức Kitô và Giáo Hội, một giao ước được cụ thể hóa một cách rõ ràng qua Bí tích Hôn Nhân cũng như qua Bí tích Thánh Thể. Giáo Hội luôn trung thành rao giảng và xác quyết điều đó, vì Giáo Hội đã xác tín đầy đủ giáo huấn Phúc Âm rằng con người được kêu mời sống một cuộc sống trong chân lý, một cuộc sống mang lại cho họ sự hạnh phúc chân thật. Dĩ nhiên, một điều chắc chắn không ai chối cãi được, đó là một cuộc sống trong chân lý, trong công bình chính trực trước hết sẽ đòi hỏi con người phải hy sinh, phải từ bỏ những đòi hỏi tự nhiên không hợp lý của mình. Nhưng một khi chân lý ấy được loan báo và được đón nhận trong tình yêu chân thành và trung tín, thì chân lý ấy sẽ đem lại sự cứu rỗi, sự bình an và sự tự do chân chính.

Phải chăng họ sẽ mãi mãi không được lãnh nhận các Bí tích?

Một điều làm cho cả những người thành tâm luôn sống gắn bó với Giáo Hội cũng phải “sốc” là khi nghĩ tới việc cấm cản những người sống đời sống hôn nhân không phù hợp với giáo luật, tức những hôn nhân rối, không có giới hạn, nghĩa là người ta không biết sự cấm cản ấy sẽ kéo dài đến bao lâu, khi nào thì chấm dứt! Người ta thường nghe đi nghe lại câu phàn nàn: “Mỗi người Công giáo sau khi xưng tội đều được phép rước lễ, chỉ trừ những người ly hôn và lại đã tái kết hôn!” Đây là một lý luận thực tiễn khiến chúng ta cần phải suy tư. Quả thật, nếu đứng từ ngoài nhìn vào, người ta sẽ thấy rằng trong Giáo Hội tất cả mọi kẻ có tội đều tìm gặp được sự tha thứ. Trong khi đó, những người có lẽ hoàn toàn vô tội khi bị vợ hay chồng mình bỏ rơi, và rồi vì hoàn cảnh sống quá cô độc hay vì lý do con cái đành phải tái kết hôn, lại không được hưởng sự tha thứ ấy! Đây là một vấn đề mục vụ hết sức nan giải, không dễ dàng giải thích một cách hoàn toàn thỏa đáng được.

Nhưng một điều chắc chắn là không phải tất cả mọi tội lỗi người ta phạm đều tự động tìm gặp được sự tha thứ một cách dễ dàng. Tiếp đến, một điều khác cũng chắc chắn là mỗi người đều đòi buộc phải nỗ lực hoàn thiện cuộc sống mình mỗi ngày. Chúng ta có thể đưa ra một ví dụ: Nếu một người nào đó do ươn lười bỏ không tham dự Thánh Lễ các ngày Chúa Nhật, nhưng vào dịp rước lễ lần đầu, lễ cưới hay lễ an táng của một người bà con, lại muốn rước lễ. Câu hỏi được đặt ra là: Người ấy có được phép rước lễ không? Câu trả lời: Trước hết là không, vì người ấy đã không chu toàn điều răn thứ ba của Chúa “Ngươi hãy thánh hóa Ngày Chúa Nhật.” Chỉ sau khi người ấy đã xưng tội nên ,tức đã lãnh nhận Bí tích Hòa Giải thành sự, thì cánh cửa dẫn tới Bàn tiệc Thánh Thể mới được mở ra cho người ấy. Dĩ nhiên điều đó đòi hỏi một sự đền tội và dốc lòng chừa thành tâm của hối nhân là sẽ nỗ lực hết sức để không bao giờ tái phạm tội đã xưng. Nói cách khác, hối nhân thành tâm hứa sẽ thay đổi cuộc sống mình.

Trong khi đó, tình trạng khách quan của những người ly hôn và lại đã tái kết hôn, tức những người theo giáo huấn Phúc Âm và theo luật lệ Giáo Hội thuộc diện những người “ngoại tình”, lại hoàn toàn khác, vì giả thử họ có đi xưng tội thì tình trạng “ngoại tình” của họ vẫn tồn tại, vẫn không thay đổi, bao lâu họ còn tiếp tục sống trong hôn nhân bất hợp lệ. Rất có thể có người nào đó can đảm dám nhìn nhận rằng, theo giáo huấn Phúc Âm tôi đang sống trong một hôn nhân bất hợp lệ và tôi không thể thay đổi được, vì tôi còn có trách nhiệm đối với người vợ/chồng mới và các con cái của tôi. Liệu trong trường hợp này họ có được một lối thoát khả dĩ?

Vẫn còn những cánh cửa mở rộng

Ngoài phạm vi thuộc về Bí tích, Giáo Hội luôn dành mọi ưu ái và yêu thương cho những người ly hôn lại tái kết hôn và các người vợ/chồng của họ, bằng cách tận tình an ủi, săn sóc và giúp đỡ họ trong tất cả mọi lãnh vực không có liên quan tới các Bí tích. Để hiểu rõ được điều ấy, cần phải phân biệt rõ ràng: Sự phân biệt khách quan và sự phân biệt chủ quan. Trong giáo huấn về luân lý của Giáo Hội Công Giáo, một điều quan trọng mà người ta cần phải làm sáng tỏ, đó là: Liệu người nào đó đã bị người vợ hay chồng bỏ rơi một cách vô tội và bất công, hay chính người đó tự xóa bỏ hôn nhân hoặc kết hôn với một hậu ý xấu. Điều đó muốn nói rằng xét về phương diện chủ quan các tình huống của vấn đề rất phức tạp và khác biệt. Nhưng xét về phương diện khách quan thì luôn luôn chỉ có một thực tại duy nhất, đó là sự đổ vỡ của hôn nhân.

Còn về phần Giáo Hội, ngoài những yếu tố và sự kiện khách quan rõ ràng, Giáo Hội không thể dựa theo những tình huống chi tiết chủ quan của vấn đề để có thể đưa ra một phê phán hoàn toàn đúng sự thật được, nhưng điều đó thuộc về một mình Thiên Chúa, bởi vì. “Con người chỉ nhìn thấy được điều trước mắt, còn Thiên Chúa nhìn thấy tận đáy lòng con người.” (1Sm 16,7b). Hơn nữa, trên thực tế Giáo Hội là một cộng đồng rộng lớn, nên trong các việc giải quyết cá nhân riêng rẽ, Giáo Hội không thể đưa ra được những biện pháp nào khác ngoài việc dựa theo những dẫn chứng khách quan và cụ thể cần thiết. Ở đây chúng ta có thể tạm lấy trường hợp xảy ra trong một giáo xứ tương đối nhỏ làm ví dụ, một nơi mà mọi người đều quen biết nhau. Đồng thời cũng tạm cho rằng vị Linh mục Quản Xứ hoàn toàn hiểu biết và thông cảm cho hoàn cảnh của một người đàn ông hay một người phụ nữ bị vợ hay chồng mình bỏ rơi và đi theo một người khác. Sau nhiều năm sống cô đơn lẻ loi, người bị vợ hay chồng bỏ rơi đó lại quen biết và lập gia đình với một người khác. Trong trường hợp này, nếu vị Linh mục chúc lành cho sự quan hệ này hay vì hoàn cảnh đặc biệt của người ấy mà cho phép rước lễ, thì xét về phương diện Bí tích sự ngoại lệ này sẽ rất khó lòng tìm ra được câu giải thích thỏa đáng. Vả lại, nhiều người khác trong những trường hợp tương tự cũng đòi hỏi được hưởng sự ngoại lệ như thế. Từ đó phát xuất những hậu quả tiêu cực khó lường, đó là: Nếu từ chối không cho phép những người này trong các trường hợp tương tự được hưởng sự miễn chuẩn ngoại lệ, thì chắc chắn sẽ gây nên sự bất mãn, sự chống đối và sự bất ổn trong cộng đồng Giáo xứ; nhưng nếu chấp nhận cho tất cả những người ấy được hưởng sự miễn chuẩn ngoại lệ nói trên, thì vị Linh mục đã tự tiện tương đối hóa hay bình thường hóa “tội ngoại tình!” Vì thiếu những tiêu chuẩn chắc chắn, nên Giáo Hội chỉ có thể tận tình giúp đỡ được những người thực sự đang phải sống trong hoàn cảnh đáng thương ấy bằng mọi cách thế không nằm trong lãnh vực Bí tích.

Giáo Hội càng bức xúc lo lắng đặc biệt trong trường hợp, nếu một người dù sống trong quan hệ mới, nhưng không chỉ luôn sống gắn bó với đức tin mà còn đưa dẫn người bạn đời mới của mình sống đạo sâu sắc, dấn thân trong các sinh hoạt tông đồ của Giáo xứ, nhất là luôn nỗ lực giáo dục con cái theo đúng đức tin của Giáo Hội. Trong trường hợp này, sự động viên và sự nâng đỡ của cộng đồng Giáo xứ và cụ thể là qua vị Linh mục Quản Xứ và Ban Hành Giáo Xứ hay các người có trách nhiệm trong Giáo xứ là một điều vô cùng quan trọng và cần thiết. Trong trường hợp hoàn toàn đặc biệt này, một câu hỏi thuộc lãnh vực mục vụ được đặt ra là: Liệu người ta có thể tìm gặp riêng những người trong cuộc và chân thành cho họ biết rằng, đối với luật Chúa và luật Giáo Hội, hoàn cảnh “hôn nhân rối” của họ vẫn không thay đổi, bao lâu họ còn tiếp tục sống kiểu vợ chồng với nhau, nhưng vì các nỗ lực đầy xác tín và nên gương của họ trong cuộc sống đức tín hằng ngày, nhất là trong việc giáo dục con cái sống theo đúng các giáo lý của Giáo Hội, nên họ được phép lãnh nhận các Bí tích của Giáo Hội? Dĩ nhiên trước một quyết định quan trọng có tác động đến đời sống tâm linh của những người trong cuộc, vị Linh mục Quản Xứ cần bàn hỏi và thỉnh ý các Linh mục khác trong Giáo Hạt hay trong Giáo Phận, và nếu cần, phải trình cho Đức Giám Mục Giáo Phận biết và thỉnh ý ngài. Ở Âu Mỹ, những “phép chuẩn” cho những trường hợp này đã được áp dụng trong nhiều Giáo xứ, vì “ Luật ngày Sa-bát là vì con người, chứ không phải con người vì luật ngày Sa-bát”, vâng, mọi luật lệ là để giúp con người được hạnh phúc, chứ không phải để đày đọa con người trong đau khổ!

Phần cá nhân tôi, nếu dựa theo nguyên tắc, tức dựa theo phương diện thần học về Bí tích Hôn Nhân, tôi sẽ thành tâm góp ý với đôi vợ chồng liên hệ: “Dựa theo ý nghĩa của điều răn Thứ Sáu, thì cuộc sống vợ chồng của anh chị là không đúng. Đây là một điều mà anh chị hiện chưa thể hay chưa muốn thay đổi. Vì thế, anh chị cần cố gắng trung thành chu toàn các Điều Răn khác của Chúa một cách cẩn thận. Chắc chắn Chúa sẽ hài lòng và chúc lành cho sự cố gắng của anh chị. Người biết rõ hơn ai hết hoàn cảnh sống của anh chị và chắc chắn Người sẽ không do dự trong việc ban các ơn cần thiết cho cuộc sống ấy!”

Một tư tưởng khác tôi xin được phép trình bày tiếp sau đây. Tất cả chúng ta với tư cách là Giáo Hội, nhiều khi phải hoàn toàn chịu bó tay trước các quyết định thuộc các Bí tích thánh, chẳng hạn việc tháo gỡ một hôn nhân Công Giáo đã thành sự. Chúng ta chỉ được giao quyền quản lý các Bí tích và quyền làm trung gian chuyển các ơn lành của Chúa đến cho các tâm hồn theo đúng ý muốn và các quy định của Người, chứ chúng ta không phải là chủ nhân của các Bí tích và cũng không có toàn quyền quyết định trên các Bí tích và các ơn lành siêu nhiên. Điều gì Đức Giêsu không đặt vào tay chúng ta, chúng ta không có quyền phân phát cho người khác.

Nhưng Thiên Chúa toàn năng và thượng trí hơn đôi tay bị bó chặt của chúng ta bội phần. Vì thế, người ta hoàn toàn hợp lý khi hy vọng và xác tín rằng, một người nào đó mặc dù “bị bó tay”, nhưng sẽ nhận được một cách dồi dào các ân sủng của Thiên Chúa hơn là một kẻ khác hoàn toàn được tự do, chứ không bị cản trở trong việc lãnh nhận các Bí tích thánh, nhưng lại lãnh nhận các Bí tích ấy một cách hời hợt và bất xứng. Theo thiển ý, tôi cho rằng tư tưởng này rất quan trọng, và trên thực tế nó đã chi phối các hoạt động mục vụ của tôi; bởi vì, một điều đáng tiếc là những người ly hôn và lại đã tái kết hôn thường bị mặc cảm là chỉ “tội” hôn nhân rối của họ mới là thứ tội nặng nề, đến nỗi không thể tìm được sự tha thứ. Trong khi đó, trên thực tế, chắc hẳn các tội chống lại tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân còn nặng nề hơn nhiều.

Ở đây, cũng cần nhắc lại rằng, việc tham dự các Thánh Lễ, đặc biệt các Thánh Lễ ngày Chúa Nhật, là một điều vô cùng quan trọng và hữu ích cho cuộc sống tâm linh của chúng ta, cả những khi chúng ta không hội đủ điều kiện cần thiết để rước lễ. Mỗi lần tham dự Thánh Lễ chúng ta sẽ cùng được tham phần vào sự biến đổi từ bánh và rượu thành Mình vào Máu Thánh Chúa, và qua đó, chúng ta sẽ được thánh hóa. Cả “Bàn Tiệc Lời Chúa” qua các bài đọc được trích ra từ Kinh Thánh cũng sẽ mang đến cho chúng ta thức ăn bổ dưỡng cần thiết cho cuộc sống đức tin.

Còn các tín hữu bình thường, tức những người không sống trong tình trạng hôn nhân bất hợp lệ, cũng cần phải tái xác tín rằng việc rước lễ không chỉ là một bữa ăn Agapê, bữa ăn huynh đệ giữa các tín hữu trong cộng đoàn Giáo xứ, nhưng trước hết là một sự kết hiệp mật thiết và sâu xa nhất với Đức Giêsu Kitô và với Giáo Hội. Việc rước lễ hay rước Mình Thánh Chúa đòi hỏi phải có một sự sửa soạn cần thiết và được gắn liền với những điều kiện tương xứng nhất định, mà người ta không được phép bỏ qua. Về điều này, mỗi người chúng ta cần phải tự vấn lương tâm mình một cách thành thực trước mặt Chúa. Việc rước Mình Thánh Chúa một cách vô ý vô tứ và bất xứng là một việc xúc phạm đến Phép Thánh Thể và chắc chắn không mang lại ích lợi thiêng liêng nào cho linh hồn.

_________________________

1. Romeo und Julia (tựa đề bằng tiếng Anh là Romeo and Juliet) là một vở Bi Kịch của William Shakespeare, xuất bản năm 1597. Vở Bi Kịch Romeo và Julia trình bày câu truyện hai tình nhân còn trẻ thương yêu nhau tha thiết. Nhưng đáng tiếc là họ thuộc hai gia đình thù địch nhau, nên họ không thể kết hôn với nhau được. Do đó, Romeo và Julia đã tự tử, và với cái chết của họ đã kết thúc vở thảm kịch. Vở Bi Kịch Romeo và Julia là một trong những tác phẩm nổi danh nhất của Shakespeare và là một trong những câu truyện tiểu thuyết tình cảm danh tiếng nhất trong lịch sử văn chương thế giới. (xem www.absoluteshakespeare.com/plays/romeo_and_juliet.htm.

2. Có lẽ đây là một điều mà người Việt Nam hay gọi là “làm phép giao” chăng?

Lm JB. Nguyễn Hữu Thy

Nguồn: Lamhong.org

ĐTC: "Văn minh nhân loại được đo lường bằng việc Bảo Vệ Sự Sống"

“Mức độ tiến bộ của một nền văn minh được đo bằng khả năng bảo vệ sự sống, đặc biệt là trong thời kỳ mong manh nhất.”

Đó là những lời của Đức Thánh Cha Phanxicô trong buổi tiếp kiến với các tham dự viên của “Hiệp hội Khoa học và Sự sống” nhân kỷ niệm 10 thành lập Hiệp hội.


Đức Thánh Cha cảm ơn “vì những nỗ lực của họ trong việc thúc đẩy bảo vệ sự sống con người ngay từ giây phút thụ thai trong một xã hội với nền văn hóa loại bỏ hôm nay.”


“Tình yêu của Chúa Kitô thúc đẩy chúng ta trở nên những người biết phục vụ người khác đặc biệt là những người nhỏ bé và già cả, nhờ đó giá trị nhân phẩm của họ được nhìn nhận và tôn trọng”.

Đức Thánh Cha khuyến khích các thành viên Hiệp hội hướng khóe nhìn của mình đến sự linh thánh nơi sự sống con người, nhờ đó khoa học thực sự là công cụ phục vụ con người, chứ không phải con người lệ thuộc vào khoa học.”

Tiếp tục bài diễn văn của mình, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng “tiến bộ của xã hội được đo bằng khả năng bảo vệ sự sống chứ không phải là phát triển công nghệ. Đừng quên rằng không bao giờ được phép chống lại sự sống.”

ĐTC mạnh mẽ lên tiếng: “Phá thai là tội ác chống lại sự sống. Bỏ rơi các anh chị em thuyền nhân của mình chết ngoài khơi Sicilia là một cuộc tấn công chống lại sự sống. Không có bảo hộ an toàn cho nhân công tại nơi làm việc dẫn họ đến cái chết là tội chống lại sự sống.”


Đức Thánh Cha cũng nói đến những hình thức chống lại sự sống khác như: điều kiện thiếu dinh dưỡng, khủng bố, chiến tranh, bạo lực và làm cho chết êm dịu là những hình thức chống lại sự sống con người.


Kết thúc bài diễn văn của mình, Đức Thánh Cha mời gọi Hiệp hội hãy tiếp tục công việc của mình nhằm thúc đẩy một nền văn minh sự sống. Ngài cũng mời gọi họ dấn thân trong việc đối thoại với thế giới khoa học, cả với những người chưa có đức tin nhưng “biết mở ra cho mầu nhiệm sự sống nơi con người.”

GNsP (theo news.va)



Nguồn: GNsP - Tin Mừng Cho Người Nghèo

Nghèo không phải lý do để phá thai

Trong các cuộc tranh luận về phá thai và nhân đạo, một trong những lý do phổ biến mà bên ủng hộ phá thai hay đưa ra là : vì không đủ tiềm năng kinh tế để nuôi con. Nói một cách khác đi, là hoàn cảnh khó khăn về tài chính, sợ nuôi con bị thiếu thốn.

Đó là một cách nói giảm nói tránh, còn thực tế chúng ta có thể tóm gọn lý do đó là: Nghèo!

Cũng có thể, khó khăn tài chính không đến mức đồng nghĩa với nghèo nhưng thông thường, dùng từ khó khăn trên phương diện vật chất cũng mang hàm ý là nghèo, vì nghèo nên không đủ tiền nuôi con, thế là không sẵn sàng sinh con ra. Sợ con là con nhà nghèo!

Sở dĩ tôi muốn tóm tắt lại lý do tài chính eo hẹp thành một từ “nghèo”, là để chúng ta dễ dàng hình dung cũng như hiểu được nó cách sâu rộng hơn. Vì đằng sau từ “nghèo”, không đơn giản chỉ là thiếu thốn tiền bạc.

Nếu nói về “con nhà nghèo” tôi xin kể một câu chuyện có thật: Qua một người bạn, tôi biết đến gia đình nọ của vị giáo sư già. Nhà ông nghèo, vì ông là giáo sư từ chế độ Cộng Hòa nên giờ chỉ đứng bên lề xã hội mà dõi theo thời thế. Thỉnh thoảng giáo sư vẫn được mời qua các trường Đại học Mỹ để giảng dạy, có điều nói về tài sản, đồ đáng giá trong căn nhà cũ kĩ đơn sơ của ông chỉ có sách, vợ ông có khi còn phải buôn gánh bán bưng để chạy ăn từng bữa, cơm cà mắm muối hết sức đạm bạc… nhưng điều đáng nói là họ không thấy bất mãn với cuộc sống, bà giáo sư bảo rằng niềm vui của bà đơn giản là chỉ cần ngồi nghe ông giáo sư nói chuyện. Và đặc biệt, hai đứa con của họ tuy lớn lên trong gia đình thiếu thốn nhưng lại rất giỏi, học thức thì sâu rộng, phẩm chất thì tốt đẹp. Đó là hoa trái của sự giáo dục đúng đắn từ cha mẹ, dù là cha mẹ nghèo.

Đó là một ví dụ điển hình của cái gọi là sinh ra trong nghèo khó. Quả thật, nghèo khó không nói lên điều gì ngoài việc cho chúng ta nhiều cơ hội để trui rèn ý chí hơn.


Quay trở lại vấn đề chính, tôi không mong gì hơn là được chia sẻ chân thành với những người bạn, chị, em gái… đã, đang hoặc sẽ bối rối khi lâm vào tình cảnh mang thai nhưng có ý định phá thai vì nghĩ đến kinh tế eo hẹp.

Chúng ta hãy suy nghĩ một chút:

Nếu lấy lý do nghèo để không sinh con, thì chưa chắc giờ bạn có mặt ở đây để phá thai, bỏ đi đứa trẻ trong bụng mình. Vì nhìn lại, bố mẹ bạn khi xưa có giàu có không? Nếu giàu, sao tới đời bạn lại bị cái nghèo vây lấy tới nỗi không dám sinh con?

Có thể bạn không thừa hưởng tài sản của bố mẹ vì tự lập, nhưng chẳng lẽ con bạn phải chịu sự thiệt thòi đến mức mà ông bà giàu có của nó không thể vì tình thương mà giúp đỡ bạn nuôi dưỡng nó trong giai đoạn bạn khó khăn?

Còn nếu cha mẹ bạn nghèo, vậy bạn nhìn xem, họ có chối bỏ bạn với lý do như bây giờ bạn dùng để chối bỏ con mình không? – “Tôi phá thai vì kinh tế không cho phép”.

Hay là bố mẹ bạn vẫn cho bạn cơ hội sống để thay đổi cuộc đời ? Mà chắc rằng khi quyết định sinh bạn ra, họ cũng chẳng sinh vì ý muốn để bạn giúp họ đổi đời. Bởi vì tương lai là cánh cửa tự do, bên kia cánh cửa, chúng ta không thể áp đặt bất cứ điều gì từ tư tưởng một chiều của chúng ta. Tương lai là một cánh cửa mở. Vậy sao bạn không để nó mở ra hy vọng hơn là cố chấp đóng sầm cửa lại?


Đặt một trường hợp: Bạn nói bạn không có điều kiện kinh tế để sinh con, bạn chưa lập gia đình, chưa có sự nghiệp vững chắc nên không thể nuôi con khôn lớn, thế là bạn phá thai. Vậy điều gì xảy ra nếu sau khi lập gia đình, khi bạn đến ngưỡng tuổi “đã phải có sự nghiệp” (như bạn từng dự đoán) mà bạn vẫn nghèo, vẫn thiếu thốn, không dư dả về kinh tế… lúc này bạn có thai “danh chính ngôn thuận”, vậy chẳng lẽ cũng phải phá thai?


Có thể lúc này sự lựa chọn của bạn là không, theo lẽ tự nhiên, kết hôn có con thì sinh ra thôi. Vậy vấn đề có thể không phải là do cái nghèo, mà do sự “danh chính ngôn thuận” khi mang thai. Nghĩa là gái chưa chồng mà có con thì sợ tai tiếng, sợ không có người san sẻ gánh nặng nuôi con cùng mình. Còn có chồng rồi thì dù kinh tế kém nhưng sinh con vẫn dễ chịu hơn. Lý do thật có thể là vậy.

Thế thì liệu có công bằng cho đứa trẻ không khi mà trước hôn nhân hay sau hôn nhân, con bạn đâu có quyền lựa chọn thời điểm nào để đến thế gian này ? Phải chăng chính bạn đã tước đoạt quyền lựa chọn đó? – Quyền lựa chọn một con người có được sống trên đời này hay không!

Xoáy sâu vào vấn đề này sẽ thấy được lý do tại sao những tổ chức bảo vệ thai nhi trên thế giới nhận định: phá thai chính là giết người!

Và phân tích vào vấn đề cũng mang lại cho chúng ta một lời khuyên rằng: Nghèo không phải là lý do để chối bỏ trách nhiệm sinh con, dù lỡ mang thai khi mà bạn nghĩ rằng điều kiện chưa đủ để nuôi con thì đó cũng không phải lý do để trốn tránh thiên chức của một người mẹ.


Bởi thực tế cho thấy, con người có khả năng đấu tranh và sinh tồn vô cùng mạnh mẽ, đã có biết bao nhiêu gương mặt danh nhân, vĩ nhân xuất thân từ những gia đình nghèo khó, thậm chí còn nghèo hơn cả cái nghèo của các bạn.


Vậy điều gì quyết định cuộc đời họ? Tôi nghĩ chúng ta không nên đổ thừa cho hoàn cảnh nữa, mà hãy nhìn vào tận sâu trong trái tim mình. Điều gì làm cho những danh nhân xuất thân bần hàn đó vượt qua được khó khăn? Đừng cho rằng môi trường xã hội của họ tốt hơn, trợ cấp xã hội giúp họ, v.v… và v.v…

Giả dụ có nhận được trợ cấp xã hội, thì trước tiên họ phải được sống đã! Mà thực ra vấn đề không nằm ở trợ cấp xã hội, nó nằm ở khả năng của mỗi người để vượt qua khó khăn và nên người, sự giáo dục và tình thương từ gia đình góp một phần không nhỏ vào nhận thức của họ.

Nếu bạn nghi ngờ về những điều trên đây, tôi xin điểm qua một vài tấm gương “tay trắng làm nên cơ đồ” của thế giới và cả ở Việt Nam:

1. Tổng Thống Mỹ Abraham Lincoln: Lincoln có xuất thân bần hàn, gần như chỉ trải qua 18 tháng giáo dục phi chính quy, nhưng với tính siêng năng tự học, ông đã bước trên con đường của một vĩ nhân.

2. Howard Schultz: ông chủ của hãng cafe danh tiếng thế giới Starbucks là điển hình của mẫu tỷ phú vươn lên từ nghèo khó. Lớn lên ở khu ngoại ô nghèo Canarsie, Brooklyn, Schultz luôn ao ước được bước ra khỏi những rào cản và lối sống mà người cha làm nghề lái xe ba gác hướng ông đi theo. Mặc cho cảnh thiếu thốn cơ cực, ông lại rất giỏi các môn thể thao và đã giành được học bổng bóng đá từ trường Đại học Nam Michigan.

3. Tỷ phú Trung Quốc Li Ka-Shing: ông là người giàu nhất khu vực Đông Á, từng bỏ học lúc 15 tuổi để đi làm ở một nhà máy sản xuất nhựa. Gia đình Li Ka-Shing rời bỏ Trung Quốc đại lục để đến Hong Kong vào năm 1940. Cha ông mất vì căn bệnh lao phổi khi ông mới 15 tuổi. Li đã phải bỏ học để giúp đỡ gia đình từ đấy.

4. Jeff Bezos – Ông chủ Amazon.com: Từ đứa con của bà mẹ vị thành niên trở thành CEO công ty thương mại điện tử số một thế giới. Mẹ Bezos sinh ông khi vẫn còn đang trong độ tuổi đến trường và bố dượng của ông lúc đó cũng chỉ là một thanh niên 15 tuổi mới rời bỏ Cuba đến sinh sống tại Mỹ.

5. Ở Việt Nam có Đặng Lê Nguyên Vũ: Người sáng lập, chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn cà phê Trung Nguyên. Anh sinh tại Khánh Hoà, trong một gia đình nông dân nghèo. Tuổi thơ đi học của ông “vua” cà phê Việt là những ngày bẻ ngô, chăm lợn giúp mẹ, lội bộ trên con đường đất đỏ dài suốt 9 năm đến trường. Sinh ra trong nghèo khó, học giỏi, vì yêu cà phê, đến năm thứ 3 trường Y, anh bỏ học tìm mọi cách đến với cà phê. Và sự thành công vang dội sau đó của thương hiệu Café Trung Nguyên thì khỏi cần nói chắc bạn cũng biết.


6. Hay gần gũi hơn với giới trẻ hiện nay, đơn cử một gương mặt ca sĩ thần tượng Việt Nam, đó chính là ca sĩ Khởi My: Nguồn thu nhập chính của gia đình Khởi My trước đây là gánh củi khô của mẹ nhưng gia đình vẫn cố gắng cho Khởi My ăn học đàng hoàng. Vào năm 2007, sau cuộc hôn nhân đổ vỡ của bố mẹ, Khởi My cùng mẹ rời Đồng Nai lên Sài Gòn để mưu sinh.

Khởi My tự hào nói về những gì đã qua: “Phải cảm ơn hoàn cảnh khó khăn khi khởi nghiệp. Tôi được nhiều cái hơn những bạn sinh ra trong gia đình đầy đủ, ví dụ như tính cần kiệm, suy nghĩ sâu sắc trước khi mình làm một việc gì đó, nghị lực sống mạnh mẽ. Tôi luôn có một hướng: gặp khó khăn thì mình phải làm sao để thay đổi được hiện trạng? Hoặc có thể thiếu thốn về vật chất nhưng tôi không để mình thiếu thốn về tinh thần, thiếu thốn về đạo đức sống.”


Bạn có công nhận rằng người ta sống đâu phải chỉ cần tiền của, thành công… mà còn cần nên người? Ai dám chắc những người điều kiện kinh tế thiếu thốn thì không nên người?


Nếu có ai cho là vậy, thì chẳng khác nào đổ hết trách nhiệm của các tệ nạn xã hội, của sự suy đồi đạo đức, của tội ác… lên đầu những người nghèo. Bởi vì tin rằng tất thảy những đứa trẻ nghèo đều tiềm ẩn sẵn nguy cơ trở thành tội phạm.

Trong khi tin tức thế giới cho thấy, những tội ác kinh khủng nhất, có tổ chức chặt chẽ hay quy mô sâu rộng, nhiều khi lại do những kẻ cầm đầu hết sức tinh vi, giàu có, cũng không thiếu kẻ học hành trường lớp tử tế.

Kể ra để cho thấy một điều: sự giáo dục ở những năm tháng đầu đời định hình con người của đứa trẻ. Nếu bạn không có nhiều tiền, bạn vẫn có thể bù đắp bằng cách cho con một nền giáo dục đúng đắn và đầy ắp tình thương.

Đừng chỉ gán trách nhiệm giáo dục cho nhà trường, cho môi trường xã hội mà phải nhận thức rằng cái góp phần không nhỏ trong việc hình thành nhân cách con bạn chính là môi trường sống ngay trong gia đình.

Cũng đừng chỉ nghĩ tiền mới giải quyết được hết các vấn đề nuôi dạy con. Có những khía cạnh chỉ có tình thương mới chạm vào được. Do chúng ta đã hình thành thói quen suy nghĩ rằng tiền bạc là chìa khóa giải quyết mọi vấn đề, nên vô tình chúng ta tự đưa mình vào ngõ hẹp. Không giải pháp, không sáng kiến trong cách nuôi dạy con nên người. Chắc hẳn khi bạn giàu lên, bạn cũng không muốn quan tâm con bằng cách chỉ biết quăng tiền cho nó tiêu, phải không?



Vậy thì đâu là sự khác biệt nơi những đứa con nghèo đã được sinh ra và nên người của những thế hệ trước so với đứa con bạn không muốn sinh ra vì bạn nghèo ?

Bạn thiếu cái gì so với các bậc cha mẹ của các thế hệ trước đó?

Có chăng là thiếu sự hy sinh, lòng can đảm, có chăng là nghèo tình thương, sự lạc quan, chứ không hoàn toàn do nghèo kinh tế.

Danh ngôn có câu: Khi người ta yêu thương, sự nghèo khó trở nên mờ nhạt đến đáng ngạc nhiên (Edward Bulwer Lytton).

Và không phải thiếu thốn vật chất là cái “nghèo” đáng buồn nhất, nhưng “sự nghèo khó khốn cùng nhất là nỗi cô đơn và cảm giác không được yêu thương” (Mẹ Teresa Calcutta).


Nếu bạn không cho con bạn tình yêu của người làm mẹ, thì chính bạn đã biến nó thành đứa trẻ nghèo đói rồi, chưa cần nói tới hoàn cảnh kinh tế.


Khi giàu tình thương thì nỗi lo nghèo vật chất chỉ giống như con sâu ở giữa vườn hoa. Không thể vì một con sâu mà bỏ cả vườn hoa tươi đẹp.


Khi giàu tình thương, bạn dù lo lắng cũng sẽ có sáng kiến để đem đến cho con một cuộc sống tốt nhất và phù hợp nhất có thể. Chứ không phải ngồi dự phóng tương lai đau khổ cho nó, vì tương lai là một cánh cửa mở của tự do và sự lạc quan tin yêu.

Cái bạn cần là nhìn thấy được toàn cảnh tươi đẹp của một vườn hoa, cũng như tin tưởng rằng mình có thể đem đến những điều tốt nhất cho con bằng một tình yêu thương lớn lao.

Bạn có thể cho con bạn nhiều thứ hơn là tiền của. Cái đáng giá nhất bạn có thể cho con mình chính là tình thương và những bài học làm người. Với những thứ đó, hãy yên tâm rằng ít ra con bạn sẽ không “nghèo khó” trước hết là về mặt tinh thần. Còn sau đó, là cách bạn dạy con mình về khả năng tự chịu trách nhiệm cho cuộc đời nó, như vô số các tỷ phú nổi tiếng thế giới để lại di sản cho con, có những người đã chọn cách khác biệt: đó không phải là để lại của cải, mà để lại khả năng tự kiếm sống và tinh thần chịu trách nhiệm.

Vì vậy, khi dùng lý do “nghèo” để biện minh cho hành vi phá thai, thì chúng ta phải đọc sâu hơn ngữ nghĩa đằng sau nó, đó là người làm cha làm mẹ không chỉ thiếu tiền mà còn thiếu đi cái lớn hơn, cái đó rất cơ bản mà quan trọng, đó là tình yêu thật sự dành cho con.

Có thể người ta bao biện rằng vì yêu, vì muốn tốt cho con nên mới giết nó đi để nó không sống nghèo hay sống đau khổ. Nhưng không, đấy không thể nào là tình yêu được ! Nếu chủ thể bạn yêu thương không hiện hữu, bạn gửi gắm nỗi yêu thương đó cho ai ? Và chúng tôi không tin thứ tình yêu bằng môi miệng ấy, bởi vì yêu là sẽ muốn dành cho con sự sống, để con hít thở và lớn lên trong sự bao bọc trìu mến của tình thân.

Có muôn vàn lý do nghĩ ra để phá thai, nhưng chỉ cần một lý do thôi cũng đủ để cứu một sinh mạng. Đó là vì Yêu Thương.

Sông Trăng – 27.05.2015

Nguồn: Yeususong.com

Khiết tịnh là gì trong hôn nhân?

Khiết tịnh là gì?

Đa số tin rằng giữ khiết tịnh có nghĩa là không sinh hoạt tình dục. Lầm to!

Có rất nhiều người sống cuộc đời khiết tịnh tốt lành trong khi vẫn có cuộc sống tình dục lành mạnh và sôi nỗi. Xin lưu ý rằng họ đều là những người đã lập gia đình. Đúng vậy : ngay cả những người đã kết hôn cũng được mời gọi sống khiết tịnh. Trên thực tế, đức khiết tịnh có nhiều điều cần phải làm hơn với sự chung thủy hơn là với những kinh nghiệm tình dục đã nói trên. Bản chất của đức khiết tịnh là trung thành với trạng thái trong cuộc đời của một người. Do đó, đối với một cặp hôn nhân, điều đó có nghĩa là để dành sự bày tỏ tình yêu thể xác cho người bạn đời của mình, duy nhất.


Đức Khiết tịnh có nghĩa gì với những người sống một mình?

Với người sống một mình. khiết tịnh cũng như thế. Nếu ta cho đó là điên rồ, hãy trung thành với cuộc chơi và hãy nhìn xem với chính mình. Quan hệ xác thịt, mặc những gì các phương tiện truyền thông có thể trình bày, không phải là một môn thể thao trong nhà. Đó là một sự diễn tả tình yêu TỐI HẬU giữa một người chồng và một người vợ. Giao hợp, mặc cho những gì các phương tiện truyền thông bàn luận, cũng không phải là một hành vỉ thể xác. Đó là một sự tự hiến của một người cho người khác. Nó thân mật đến nỗi đó là một kinh nghiệm về cảm xúc, về trí tuệ, về tinh thần và về thể xác. Nó sâu xa đến độ nó làm cho sự gắn kết hôn nhân trở nên mạnh mẽ và trọn vẹn. Có gì không đúng với tình dục trước hôn nhân chăng?

Ràng buộc hôn nhân giữa một người chồng và vợ tương tự như sức mạnh của Keo dán Duct. Nếu chúng ta hiểu ra rằng sự thân mật tình dục tạo ra và củng cố sự ràng buộc giữa người nam và người nữ, vậy thì điều gì xảy ra khi chúng ta sinh hoạt tình dục với nhiều người khác nhau trước khi kết hôn?

Nếu chúng ta đặt một miếng keo dán trên cổ tay mình (ngừơi đầu tiên chúng ta giao hợp với), sẽ có một sự dính chặt cứng. Khi chúng ta cắt đứt quan hệ, chẳng khác gì giật xé miếng keo dán ra khỏi cánh tay – nó làm ta đau. Sau đó khi chúng ta gặp một người khác và trở thành thân mật với họ, tức là chúng ta đặt cũng chính miếng keo dán ấy lại trên cánh tay chúng ta. Nhưng lần nầy chúng ta thấy sự bám dính không còn mạnh mẽ như trước nữa. Với miếng keo dán hay với quan hệ thì cũng như thế. Và mỗi lần nó ít gây đau nhức hơn một chút khi giật miếng keo dán ra và mỗi lần miếng keo được dán lại, thì sự dính kết trở nên yếu kém hơn.

Có một điều như đức khiết tịnh trong hôn nhân chăng?

Nếu hoặc là khi nào bạn kết hôn rồi, bạn sẽ ước mong người chồng hay người vợ của bạn sẽ chung thủy với bạn và bạn sẽ ước ao sống trung thành với người bạn đời của mình. Đó là ước ao được sống một cuộc đời hôn nhân khiết tịnh. Dù bạn sống một mình, điều hợp lý duy nhất là bạn thực hành nhân đức nầy ra sao để khi kết hôn, bạn sẽ có khả năng có được một quan hệ thực sự âu yếm. Nhưng bạn có thể nói mình muốn chung thủy với bạn trăm năm của mình khi kết hôn, tại sao lại không trung thành với bạn đời mình ngay lúc nầy?

Bởi vì sự thánh thiện của hôn nhân, bởi vì sự thánh thiện của thân xác chúng ta và bởi vì sự thánh thiện của tình dục chúng ta, bất kỳ lạm dụng tình dục nào cũng tai hại và có hại cho đời sống tinh thần của chúng ta. Với tư cách là tín hữu Công giáo, chúng ta đươc kêu gọi trở thành tấm gương cho tha nhân trên thế gian.

Chúng ta được kêu gọi nên giống Chúa Giêsu: đi ngược với văn hoá. Chúng ta được kêu gọi để hiểu ra rằng nếu chúng ta muốn tìm được an bình và niềm vui, thì chúng ta phải sống hoà hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta theo hình ảnh Người và nếu chúng ta sống hợp theo các giới răn Người truyền, thì chúng ta sẽ được hạnh phúc. Bất hạnh thay, Chúa Giêsu đã không nói điều nầy sẽ dễ dàng. Thực tế Người đã nói :” Hãy vác thập gía mình và theo Ta”.

Một người phục hồi và gìn giũ đức khiết tịnh trong cuộc sống như thế nào?


Bất cứ một người trẻ tuổi nào ước ao sống khiết tịnh hoặc khôi phục lối sống khiết tịnh của mình, sẽ có cơ hội để vác thập giá mình và đi theo Chúa Giêsu. May mắn thay, Chúa Giêsu đã hứa Người sẽ luôn hiện diện để giúp đỡ chúng ta và rằng sẽ không khi nào Người bỏ rơi chúng ta.

Người luôn hiện diện và ước mong giúp đỡ chúng ta, nhưng chúng ta phải mở lòng ra để đón nhận ân sủng (sự trợ giúp) của Người. Chúa Giêsu đã yêu cầu chúng ta cầu nguyện liên lĩ. Điều nầy hết sức quan trọng cho bất cứ ai cố gắng sống nhân đức khiết tịnh.

Kết hiệp chúng ta với Chúa Kitô trong lời cầu nguyện càng thường xuyên càng tốt, là con đường duy nhất để thành công. Chảng có điều gì từ lời cầu đơn sơ nhưng sâu xa nhất “Xin Chúa Giêsu giúp con” cho đến những lời cầu nguyện chính thức hơn như là Kinh Mân Côi - cầu xin Đức Maria, Mẹ chúng ta vinh hiển trên trời, chuyển cầu giúp chúng ta.

Các Bí Tích giúp chúng ta sống đời khiêt tịnh như thế nào?


Việc năng chạy đến các bí tích Hoà Giải và Thánh Thể là một thực hành tốt lành. Nếu chúng ta sa ngã và phạm một tội về trong sạch với chính mình hoặc với người khác, thì Bí Tích Hoà Giải bảo đảm cho chúng ta sự tha thứ của Thiên Chúa và tình thương bất tận của Người đối với chúng ta. Tất cả những gì chúng ta cần làm là năng đến gần ngai toà Chúa giàu lòng xót thương, đầy lòng ăn năn thống hồi tội mình và xưng thú và chúng ta được bảo đảm rằng mọi tội lỗi chúng ta được Thiên Chúa tha thứ, quên đi và chúng ta bắt đầu con người mới và cuộc sống mới.

Bí Tích Thánh Thể được gọi là nguồn gốc và đỉnh điểm đức tin chúng ta. Nguồn suối đức tin nầy của chúng ta là trong sự sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, Đức Chúa và là Đấng Cứu Độ chúng ta, mà chúng ta cử hành trong bí tích Thánh Thể. Đó là Đỉnh Cao đức tin chúng ta, vì qua Bi Tích Thánh Thể, chúng ta được kết hợp mật thiết vơi Chúa Giêsu Kitô qua việc rước Mình Thánh, Máu Thánh, linh hồn và Thiên Tính trong khi rước Người vào lòng. Các Bí Tích nầy cho chúng ta thấy Chúa Giêsu yêu thương chúng ta biết nhường nào. Với việc quý trọng món quà thân xác chúng ta và giúp cho tha nhân biết tôn trọng thật sự bản thân họ, chúng ta tỏ bày cho Chúa thấy chúng ta yêu mến Người biết bao.

Giáo Hội muốn nói gì qua Đức Khiết Tịnh?


Giáo Hội muốn nói rằng chúng ta được kêu gọi sống cuộc đời chúng ta trong một cách nói lên được phẩm giá con người qua việc nhìn nhận tình dục của chúng ta là một quà tặng Chúa ban. Khi quà tặng từ Thiên Chúa nầy được sử dụng hợp theo thánh ý Người, thì chúng ta làm cho Chúa được vinh hiển và thực sự góp phần xây dựng Nước Chúa bằng việc sống trung thành với tình trạng chúng ta trong đời sống.

Một ít năm rồi, nhà viết sử nhạc rock Dawn Eden đã kinh nghiệm một cuộc trở lại với Chúa Kitô một cách ấn tượng sâu sắc. Qua một cuốn sách mới, Câu chuyện ly kỳ Đức Khiết Tịnh : Bà thuyết phục các phụ nữ sống một mình khác rằng khiết tịnh đáp ứng hơn là tình yêu tự do. Tiếp theo đó là rất nhiều trích đoạn từ cuốn sách của bà. ”Qua đức khiết tịnh – và chỉ qua đức khiết tịnh mà thôi - mọi ân sủng làm nên một phụ nữ có thể đến làm trọn đoá hoa trong bạn. Nói cách khác, không phải là vấn đề bạn gặp những người đàn ông như thế nào. Đó là việc bạn là ai khi bạn gặp gỡ họ. Hãy thận trọng với chữ “ai” và rồi chữ “như thế nào” sẽ tự nó dàn xếp.

Cha nghĩ tình dục tiền hôn nhân ảnh hưởng thế nào đến hôn nhân?

Với tình dục tiền trước hôn nhân, hành vi được coi là đem hai người lại gần với nhau, thì cũng chính hành vi ấy kết thúc bằng việc đẩy họ xa nhau. Khi bạn càng mật thiết hết sức có thể về mặt thể xác với một người và bạn biết người đó có thể bỏ đi ,như thế là bạn phải xây một bức tường và nhẫn tâm chuẩn bị một sự đoạn tuyệt có thể xảy ra. Ngay cả khi sau đó các bạn lấy nhau, bạn vẫn cảm thấy bị tổn thương. Đó là một trong các lý do tại sao tỷ lệ ly dị lại cao đến vậy với những cặp sống chung với nhau trước khi kết hôn.

Cha nghĩ tình dục trước hôn nhân ảnh hưởng đến nam giới thế nào?


Theo ý tôi, hình như nó làm cho họ cảm thấy trống rỗng. Nhiều người nam thêu dệt rất nhiều điều cường điệu mới mẻ sau mỗi lần giao hợp. Nhưng ở một bình diện thẳm sâu, họ dường như đói khát về cảm xúc thân mật đích thực.

Cha sẽ nói gì với những người không chấp nhận các quy tắc của Giáo Hội về cách ăn nết ở về tình dục bên ngoài hôn nhân?


Thiên Chúa biết rõ chúng ta được dựng nên như thế nào và Người biết cái gì sẽ làm cho ta được hạnh phúc. Các “quy tắc luật lệ” của Người về việc sử dụng thích hợp tình dục không phải để làm cho đời sống chúng ta khó khăn, nhưng hiện hữu để giúp chúng ta làm sao cho mình được hạnh phúc và hiệu quả nhất. Một phụ nữ không thể coi nhẹ tình dục . Bà giải thích trong cuốn sách của bà: ”Những người đàn ông có chiều sâu sẽ hình dung ngay là tôi quá coi nhẹ tình dục. Tệ hại hơn nữa, tôi trở thành quen nhìn mình và các bạn tình như là những đồ vật cho thèm khát xác thịt, đến nỗi tôi mất hết khả năng trao ban”. Khuynh hướng nhìn mình và tha nhân như những đồ vật làm hại to lớn. Bà Dawn tin như thế và được khích lệ bởi nền văn hoá thế tục, không ngừng gợi ý rằng khoái lạc dâm ô là một trạm dừng chân trên con đường đi đến tình yêu.

Song làm chuyện tình dục “giống như một người đàn ông, không hề có hạn chế” là điều đơn thuẩn không thể được đối với nữ giới. ”Người nữ được dựng nên để gắn bó thắm thiết. Chúng ta là những chiếc bình và chúng ta tìm cách để được làm đầy. Vì lý do đó, tình dục luôn khiến chúng ta có cảm tưởng mình cạn kiệt cho tới khi chúng ta chắc chắn là mình được yêu.

Nói có với Khiết Tịnh.

Khiết Tịnh không phải là hoàn toàn kiêng tình dục, mặc dù nó cũng là một phần điều đó. Thay vào đó, Khiết Tịnh là nói có với ý nghĩa đúng đắn của tình dục : rằng chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và chúng ta phải được yêu như là những con người một cách vô điều kiện - chứ không được bị đối xử như những đồ vật mà người ta sử dụng. Bà nói : Cho nên, Khiết Tịnh có ít điều để làm về một tình dục một cách đặc trưng nhưng có nhiều điều phải làm với việc chúng ta nhìn nhận nó thế nào suốt cuộc đời. Những phụ nữ sống một mình đặc biệt phải tránh lượng định các thuộc tính của những người nam và thay vào đó nên cố gắng đánh giá họ như những người độc nhất. Bà gọi việc thực hành đức khiết tịnh là một “ơn gọi” và trong sách của Bà, Bà khích lệ các phụ nữ hãy kết hợp nó trọn vẹn trong cuộc sống hằng ngày của mình.”Dù bạn thực hành khiết tịnh với tư cách là một phụ nữ sống một mình hoặc như một phụ nữ kết hôn, thì điều đó đem đến cho bạn cùng kết quả tinh thần như nhau”. Hoa trái ấy là sự kiên nhẫn, lòng trung thành và sự tự chủ. Những phụ nữ nào trau dồi các nhân đức nầy bằng việc đi theo khiết tịnh, tất sẽ loại bỏ những người đàn ông không quan tâm đền việc gắn bó lâu dài. Họ cũng sẽ tạo cho hôn nhân của mình cơ hội thành công tốt nhất.

Lm. Gerard Monaghan


Nguồn: website Gia đình Nazareth - Giáo phận Orange

Một phụ nữ phá thai… 18 lần để cố sinh con trai

 Vì ý nguyện của nhà chồng, một phụ nữ ở Hải Dương phải phá thai tới 18 lần để sinh bằng được con trai.

Câu chuyện đau lòng của người phụ nữ phá thai tới 18 lần đó do cán bộ dân số ở Hải Dương kể với phóng viên khi đề cập đến vấn đề “trọng nam khinh nữ”.

Niềm khát khao có con trai khiến không ít bậc làm cha làm mẹ cam tâm bỏ đi mầm sống đang dần lớn lên trong cơ thể mình. Bản thân họ cũng đã trải qua những nỗi ám ảnh trong suốt ngày tháng còn lại.

Tuy nhiên, khi những người phụ nữ phải hi sinh cả sức khỏe, thậm chí đối diện với nguy cơ tử vong nhưng vẫn không đạt được ý nguyện có con trai của những ông chồng thì họ lại bị ghẻ lạnh, ruồng bỏ.

Một đoạn clip chưa đến 2 phút, với nhân vật chính là một người phụ nữ không giấu nổi nỗi tuyệt vọng cho cuộc đời và hạnh phúc gia đình chỉ vì vợ chồng chị sinh toàn con gái. Clip nhanh chóng được lan truyền trên cộng đồng mạng.


Người phụ nữ này kể lại:
“Từ ngày tôi lấy chồng đến giờ, vì cuộc sống gia đình nghèo khó nên vô cùng vất vả. Tôi đẻ liền 3 lần đều là con gái, chúng tôi cố gắng để có con trai để chồng toại nguyện nhưng vẫn không được. Đẻ người con thứ 4 vẫn là con gái, tôi vô cùng chán nản và bao lần tôi có ý định tự tử, bỏ lại tất cả. Chán chả không buồn cho con bú, chỉ nằm khóc”.

Người phụ nữ trong clip nhiều lần gạt nước mắt dù đã cố gắng kể lại bằng giọng “bình thản” nhất. Chị nói chị mặc cảm không sinh được con trai, khi chồng chị lại là con trưởng. Chị chua chát cho biết, đến nay chồng chị vẫn ra ngoài tìm kiếm con trai.

“Mình nói thì ông ấy cáu” – người phụ nữ bất hạnh này nói.

Không những cáu, chị nói nhiều lần vợ chồng cãi nhau, thậm chí đánh nhau. Người phụ nữ này tuyệt vọng vô cùng, cuối clip, chị nghĩ rằng “chắc vợ chồng tôi cứ thế này đến lúc chết, cả ngày chả ai nói với ai được mấy câu”.

Clip này đang gây tranh luận trên các trang mạng xã hộị. Nhiều người bức xúc với quan niệm trọng nam khinh nữ của người chồng. Bên cạnh đó, cũng không ít người không đồng tình với sự nhẫn nhịn chấp nhận cuộc sống đầy tuyệt vọng của người vợ trong clip.

Câu chuyện một phụ nữ phá thai tới 18 lần để cố sinh cho nhà chồng được 1 đứa con trai, lời tâm sự về cuộc đời một phụ nữ bị chồng ruồng rẫy, ghẻ lạnh, thiếu tôn trọng vì chị chỉ sinh con gái… là hai trong vô số những câu chuyện đau buồn về áp lực sinh con trai nối dõi tông đường và quan niệm “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại ở nhiều gia đình Việt Nam.

Tư tưởng này, cùng tâm lý ưa thích con trai và mong muốn có con trai, được nhiều nhà xã hội học, văn hóa học, các nhà nghiên cứu, chuyên gia về dân số chỉ ra là nguyên nhân gốc rễ trong vấn nạn mất cân bằng giới tính khi sinh tại nước ta hiện nay.

Địa phương được đề cập đến trong clip là Hải Dương. Đây là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, tư tưởng Nho giáo khá nặng nề, sự ưa thích con trai mãnh liệt. Theo điều tra năm 2012 của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc tại Việt Nam, có 72,7% người dân Hải Dương có tâm lý thích và rất thích con trai.

Tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh này nhiều năm nay luôn trong “tốp đầu” cả nước, thậm chí còn dẫn đầu.

Năm 2009, tỷ số này ở Hải Dương là 120,3 bé trai/100 bé gái. Năm 2011, 2012 là 121,3/100 và năm 2013 là 119/100. Hết năm 2014, tỷ số giới tính khi sinh tại tỉnh là 118 bé trai/100 bé gái. Hiện nay, con số này ở Hải Dương là 118,3/100.

Bà Hồ Thị Thu Hà, Giám đốc Trung tâm DS-KHHGĐ thị xã Chí Linh (Hải Dương) – một địa phương có tỷ số giới tính khi sinh hiện ở mức 118/100 - cho biết:

Thực tế nhiều người muốn sinh con thứ ba và muốn đó là con trai. Họ lựa chọn giới tính ngay từ trước khi mang thai như tìm các loại sách, các mẹo mách nhau ăn gì để sinh con trai, tính ngày rụng trứng, siêu âm để biết thời điểm trứng rụng. Thậm chí, áp dụng cả phương pháp dân gian như thụ thai tháng nào thì có con trai hay gái… Trong mấy tháng đầu của chu kỳ mang thai, chỉ cần một câu nói nhỏ nhẹ của kỹ thuật viên siêu âm: “giống bố”, “giống mẹ” là người mẹ có thể biết thai nhi đang mang là trai hay gái. Nếu không phải là con trai thì thai 14 tuần cũng phá được ở những cơ sở tư nhân.

Theo Đất Việt