Gặp người mẹ của những phận gái lỡ làng

Những thai nhi bơ vơ, những phận gái lỡ làng khi bị người yêu, gia đình ruồng rẫy bỏ mặc... Trong hoàn cảnh đau đớn đó của cuộc đời người phụ nữ, có một bàn tay nhân hậu dang ra đón các em bằng tình yêu thương.

Đó là bà Trần Thị Hường - người mẹ của những cô gái lỡ làng, trong nhóm bảo vệ sự sống chống phá thai.

Bảo vệ sự sống bằng tình yêu thương

Cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi với bà như một cơ duyên vậy. Qua tiếp xúc với một số bạn trẻ đang hoạt động tại nhóm bảo vệ sự sống Hà Nội, chúng tôi biết về bà như một cựu thành viên của nhóm, một người truyền lửa cho hoạt động bảo vệ sự sống.

Bà hồi trẻ vốn là kỹ sư làm việc tại Bộ năng lượng, nhưng hơn chục năm nay bà dành hết thời gian của mình cho hoạt động bảo vệ sự sống, bất cứ người nào lỡ lầm mang bầu không được gia đình thừa nhận, người yêu chối bỏ, sợ dư luận, sợ cơ quan… đều tìm đến với bà.

Theo lời kể của bà, ngày xưa khi còn trẻ bà thường nhận giúp đỡ những cô gái lỡ lầm, bà tạo công ăn việc làm và đỡ đần cho tới khi sinh nở mẹ tròn con vuông, bà gửi vào nhà người thân, người quen có thể giúp việc nấu nướng, hay giặt giũ quần áo, phụ giúp việc nhà, phần vì chi phí sinh hoạt phần vì tránh ánh mắt soi mói người đời.

Bà cẩn thận chỉ bảo tận tình và thường xuyên tâm sự, ngoài ra bà còn đi xin các vật dụng để chuẩn bị cho ngày vượt cạn, quần áo tã lót cho em bé… có rất nhiều, rất nhiều những trường hợp khác. Mãi cho đến những năm 2006-2007, mới thành lập nhóm bảo vệ sự sống, lúc đầu chỉ có dăm bảy người, công việc chủ yếu là đi nhặt các thai nhi ở cơ sở nạo phá thai, đem về tắm rửa và chôn cất.

Theo bà dù thai nhi chưa được sinh ra nhưng đã là linh hồn, là con người cần phải được đối xử xứng đáng như một con người. Nhìn những thai nhi nằm trong sọt rác hay trong gói giấy báo đơn sơ, thật không khỏi đau xót.

Bà tâm sự, trong những lần đầu tiên ấy, bà ấn tượng với một thai nhi tầm 6 tháng tuổi, trong một đêm mưa gió, tầm 22h bà nhận cuộc gọi đến phòng nạo phá thai nhận thai nhi, do dự vì ông nhà ốm nhưng đến 24h bà quyết định đi, đến nơi thì không thấy gì cả, nhìn xung quanh thấy một bọc màu đen, lúc đấy bà vừa sợ vừa lo lắng. Đó là thai nhi ấn tượng nhất mà bà nhặt về tắm rửa và cũng là lần đầu tiên bà tiếp xúc với thai nhi trong những ngày đầu đi làm công việc bảo vệ sự sống của mình.

Không chỉ cứu sống hàng ngàn thai nhi mà
bà còn cứu cả người mẹ đang muốn
hủy đi mạng sống con mình
Không chỉ tư vấn qua điện thoại, qua người thân bạn bè, bà còn có cả một kênh tư vấn qua mạng xã hội, những người cần giúp đỡ họ gửi tin nhắn đến cho bà để được tư vấn và trợ giúp, nhờ đó mà hàng ngàn thai nhi đã được cứu sống, và không chỉ cứu sống đứa con mà bà còn cứu luôn cả người mẹ - những người đang muốn hủy đi mạng sống con mình.

Những sự hy sinh thầm lặng

Bà Hường cho biết, hiện nay nhóm Bảo vệ sự sống (BVSS) tại Hà Nội có hơn 100 thành viên, trong đó có nhiều thành viên gần như thường trực, gắn bó với công việc này như là chính cuộc sống vậy. Bất kể đêm hôm, mưa gió, hễ được tin báo có thai nhi bị phá bỏ cần mai táng là họ lên đường đi nhận ngay.

Công việc của nhóm gồm từ việc đi tuyên truyền, cung cấp kiến thức về sinh sản cho giới trẻ và những cặp vợ chồng sắp cưới, tìm đến những bệnh viện phụ sản thuyết phục các cô gái, bà mẹ trẻ đừng nạo phá thai cho đến việc cung cấp một mái nhà, một chỗ ở tạm thời cho những bà mẹ đơn thân đang mang bầu chờ đến ngày sinh nở mẹ tròn con vuông, cứu những đứa trẻ ngay trên bàn nạo thai, và cuối cùng là chôn cất những thai nhi đã bị nạo bỏ.

Một công việc tưởng chừng như đơn giản nhưng ít ai ngờ được những khó khăn mà bà và các bạn gặp phải, sự kỳ thị hay nghi hoặc, những ánh mắt thiếu thiện cảm, có người còn nghi ngờ bà tư vấn để buôn người hoặc bán nội tang… Công việc của họ cũng đối mặt với nhiều nguy cơ dịch bệnh từ những thai nhi bị phá bỏ.

Hiện nay nhóm phân công nhau đi lấy thai nhi ở các bệnh viện, phòng khám đều đặn trong tuần, đa số đều là sinh viên dưới sự hướng dẫn của bà, từ cách tiếp cận đến việc chăm sóc tư vấn.

Sự sống là một điều kỳ diệu, có những đứa trẻ được bà Hường và các nhóm BVSS cứu sống ngay trên bàn nạo thai, đặt tên, nuôi nấng, chăm nom cho đến khi tìm được cho các em một mái ấm gia đình là một cặp vợ chồng hiếm muộn nào đó nhận về nuôi. Tất cả những công việc này họ đều làm với tinh thần tự nguyện và với sự đóng góp của những ai có lòng hảo tâm, còn lại mọi người tự tìm kinh phí bằng nhiều cách.

Công tác tuyên truyền, thuyết phục, cung cấp kiến thức sinh sản cho các "bà mẹ trẻ" tại các bệnh viện của bà Hường và nhóm tình nguyện

Bà Hường tâm sự “Có trường hợp em bé vẫn còn sống, hơi thở thoi thóp, tôi vui mừng đến nỗi nước mắt ngắn dài rơi trên gò má lúc nào không hay, vội vàng đưa đi cấp cứu và cứu sống được bé. Hạnh phúc nhỏ nhoi từ những lần tư vấn thành công, những thai nhi được giữ lại hay những cô gái nhận ra lỗi lầm và quyết tâm sống để nuôi dưỡng đứa bé, rồi sau đó các cô có cuộc sống ổn định, có người yêu thương… đã tạo nên tiếng cười, sự lạc quan cho tôi cũng như các thành viên trong nhóm, dẫu rằng đây là công việc khó khăn”.

Trong ánh mắt chứa đầy tâm sự, bà hồi tưởng lại một trường hợp cô sinh viên còn rất trẻ tuổi, tâm sự với bà đã 4 lần phá thai và đang có ý định để phá thai lần thứ 5, kể đến đây giọng bà như nghẹn lại, chúng tôi hiểu đó là tâm trạng của người mẹ lo lắng cho những đứa con của mình, bà cũng nhắn nhủ: “Đừng sống qua vội vàng, phải có sự tìm hiểu kỹ càng, làm người cần phải có lòng tự trọng cho riêng mình, đặc biệt là các bạn gái, để sau này không phải hối tiếc”.

Cứ như thế, từ chục năm nay bà vẫn luôn hoạt động thiện nguyện một cách âm thầm, bà luôn mong muốn có thật nhiều những cánh tay nối dài bảo vệ sự sống, tạo nên sự phát triển văn minh của xã hội.

Nguyễn Quế


Nguồn: báo Công Lý

Tâm sự của người thu lượm các thai nhi

Hà Nội vào thu mang theo không khi mát lạnh, trong veo làm tan biến hết mệt mỏi sau những ngày nắng nóng. Dường như khi thời thiết dễ chịu cũng làm cho con người cảm nhận về mọi thứ sâu sắc hơn:

Như thường lệ, tối nay, tôi nhận được cuộc gọi của một người bạn mà mỗi lần bạn ấy gọi, tôi biết ngay nội dung câu chuyện là gì.

20h30, tôi vội vàng dắt xe ra khỏi nhà để tới phòng khám lấy thai nhi vì sợ về muộn, nhà thờ sẽ đóng cửa. Lướt nhanh trên con xe cọc cạch mình đầy thương tích, trong đầu tôi đang có liên tưởng tới giấc mơ sáng nay, tôi mơ thấy mấy đứa nhỏ nằm trong túi nilon đen. Sau khi lấy xong, tôi trở về nhà thờ để làm công việc án táng như mọi lần tôi vẫn làm.

Vẫn cái góc nhỏ đó với cái căn phòng be bé bên trong toàn “đồ nghề” nào là găng tay, khẩu trang, khăn liệm…, bên ngoài là cái bồn rửa để tắm cho các thai nhi. Lần lượt, túi thứ nhất.. rồi…túi thứ hai, các em bị nát ra nhiều mảnh chỉ còn thấy màu đỏ như máu. Chợt cảm nhận được nỗi đau mà các em đã phải chịu đựng, bị lôi ra khỏi cung lòng mẹ, thân xác bị dao kéo cắt nát…, rồi bị bỏ chung vài ba em vào một chiếc túi nhỏ không còn phân biệt hình dạng nữa. Tiếp đến túi thứ ba, vẫn là một nhúm lợn cợn trắng đỏ nhưng trong đó tôi thấy một cánh tay nhỏ xíu nổi lên trên. Ôi Lạy Chúa tôi! Cái cánh tay bé xíu, tôi thấy cả 5 ngón tay trên cái bàn tay xinh xắn, cả một hình hài bấy lâu nay lớn lên trong dạ mẹ, giờ thì sao chứ…???. Đêm hôm qua, đứa nhỏ đó còn đang nằm ngủ trong bụng mẹ nó, mẹ nó thở nó thở, mẹ nó ăn nó cũng được ăn. Cách đây vài tiếng, nó vẫn chơi đùa trong cái túi thần kỳ ấy thế mà giờ đây, nó đang nằm trong cái túi nilon đen sì đầy mùi hóa chất.

Vẫn còn một túi nữa, lại nhẹ nhàng tháo từng nút mở ra, lần này tôi thấy Chúa Giêsu của tôi. Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, mà thai nhi cũng thế vì các em cũng là con người. Hình ảnh Chúa của tôi trong những ngày thương khó đang hiện ra trước mắt tôi qua một thai nhi bị giết nhưng vẫn còn hình dạng. Một bé gái với đầy đủ mắt, mũi, mồm miệng, chân tay. Và tôi lại thấy một thân thể yếu đuối, nhiều vết thương. Tôi thấy từng chiếc xương sườn nhỏ xíu nhưng toàn thân tím ngắt lại. Tôi cũng thấy hai cánh tay buông thõng ra vì đã không còn sức lực do chịu nhiều đau đớn bởi thủ thuật bác sĩ. Bé nằm trọn trong bàn tay, tôi trút nhẹ dòng nước mát lên hình hài bé bỏng ấy, nói nhỏ với nó rằng bé con à tắm xong rồi đi ngủ nhé! Tắm rửa và quấn khăn liệm xong, tôi bọc em cuối cùng lại. Rồi sau đó, tôi đưa chúng đến “nhà trẻ” tạm thời, nơi có những đứa nhỏ của ngày hôm qua, hôm kia và hôm kia nữa đã ở đó trước để cùng đợi nhau chuyển về “nhà trẻ” mới ngày cuối tuần. Nơi lòng đất mẹ sẽ ôm ấp và che chở những thiên thần bé bỏng ấy, những thiên thần chưa một lần được cất tiếng khóc chào đời.

Đây không phải là lần đầu tiên tôi làm công việc này nhưng đã lâu rồi tôi mới lại suy nghĩ về cuộc sống ngắn ngủi của các em thai nhi. Và tôi muốn viết để có thể giữ lại những cảm giác, những cảm nghiệm mà tôi đã được trải qua khi bản thân được làm công việc đặc biệt này. Bởi tôi cũng sợ, đến một lúc nào đó, tôi bị vô cảm vì tiếp xúc nhiều với thai nhi. Khi đó, tôi sẽ mở những dòng này ra để nhớ lại những tâm trạng, những suy tư về các em. Nhờ được gần gũi các thai nhi mà tôi thấy mình may mắn. Cùng phát xuất từ tình yêu của cha mẹ, lớn lên từ phôi thai nhỏ bé, trải qua những tháng ngày được nuôi nấng trong dạ mẹ nhưng tôi may mắn hơn những đứa nhỏ tôi vừa tắm xong kia. 


May mắn ở chỗ đó là cha mẹ tôi đã cho tôi đi trọn hành trình chín tháng mười ngày.
--------------------------------------------------
7.08.2015
Hạnh Nguyễn

Nhóm BVSS Hà Nội

Tại sao không cho con được sống?

Đó là những tiếng thét không lời của các thai nhi trong cung lòng Mẹ bé khi bé còn mong manh trứng nước không thể tự vệ được và bị nạo phá thai (NPT), bị trục xuất ra khỏi cung lòng mẹ khi đang sống êm ấm trong cung lòng Mẹ.

Các bà Mẹ dự định NPT có nghe những tiếng thét không lời đó trong trái tim mình không ???



Những tiếng thét không lời: Mẹ ơi ! Con muốn làm người. Con là con của Mẹ, của Cha. Là kết tinh của máu thịt Mẹ Cha mà. Sao Cha Mẹ nỡ giết bỏ con ??? Hàng ngàn, vạn tiếng thét không lời của bao sinh linh bé nhỏ mà hàng giờ, hàng hàng ngày đang thét lên trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta đấy các bạn NPT.

Thương lắm những sinh linh bé nhỏ ấy mà cứ 10 giây trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta lại có 1 sinh linh bé nhỏ bị tước đi quyền sống, quyền làm người… Các em sẽ đi đâu về đâu khi thân xác bị băm vằm xé nhỏ…Khi chết mà toàn thân bị cắt lìa từng mảnh, từng mảnh. Thân hình, nội tạng bị xâu xé. Có những thai nhi đã 8, 9 tháng cũng bị kích thích cho sinh non mà em vẫn còn sống, vẫn còn thoi thóp bị các Bác sĩ úp mặt xuống gối bông cho chết ngạt. Cũng có những em dù bị úp mặt cho nghẹt thở cũng không chết mà phòng NPT đã loại bỏ các em không niềm xót thương mà khi chúng tôi đến lấy mang về cấp cứu em bé đó vẫn còn sống làm người…nhưng chỉ vài giờ sau mới chết..

Tội nghiệp, tội nghiệp lắm các bạn ơi ! Các chị em, các ông bố bà mẹ đã giết chính đứa con, đứa cháu là máu thịt của mình có nghe chăng những tiếng thét không lời khi quyết định giết chính đứa con mình đang van nài: Mẹ ơi! Cha ơi! Con là con của Cha mẹ mà sao Cha Mẹ lại nỡ giết con, nỡ bỏ con không cho con được làm người ???? Cha mẹ có biết không: Có bao người mong con mà không có… Con là quà tặng Vô Giá mà Thượng Đế trao ban cho Cha Mẹ. Sao Mẹ Cha lại nỡ bỏ con. Con nào có tội tình chi ??? Mà sao nỡ giết bỏ con Mẹ Cha ơi !

Bạn thân mến, khi NPT bạn có cả ngàn lý do để bỏ con, để giết chết con mình một cách dã man… Nào là nghèo đói, nào là bạn đang dang dở việc học hành, nào là mới ra trường và tiến thân.v.v… cả ngàn lẻ một lý do để bạn đi đến quyết định NPT, giết chính đứa con và không cho nó quyền làm người như bạn. Bạn biết không ??? Nếu Cha Mẹ bạn cũng lấy cả ngàn lý do để NPT thì hỏi bạn còn có mặt trên đời này hay không ???

Xã hội hiện nay, đạo đức xuống cấp. Các bạn trẻ sống hưởng thụ, vô cảm không có trách nhiệm với tương lai nên đã dẫn đến tệ nạn NPT. Một tội ác giết người rất dã man… Đâu đó trong xã hội có những tệ nạn giết người rất dã man. Như mới đây tại Bình Dương Miền Nam Việt Nam hung thủ giết cả 6 người trong một gia đình. Tại Nghệ An hung thủ cũng giết cả gia đình 4 người… nhiều và rất nhiều vụ giết người dã man… Nhưng, nhưng bạn thấy những cảnh giết người ấy không thể dã man bằng NPT, mà hàng giờ, hàng ngày trên nước Việt nam, một năm có tới 3 triệu ca nạo phá thai. Trên toàn thế giới có cả hơn 50 triệu em bé bị tước quyền sống, quyền làm người. Việt Nam hiện tại là một trong 3 nước có tỷ lên NPT cao nhất Thế Giới chỉ sau Trung Quốc.

Các bạn có nghe chăng những tiếng thét không lời của các thai nhi : Tại sao, tại sao không cho con được sống hay Mẹ ơi ! Xin đừng giết con không ??? mà những tiếng thét ấy hàng ngày vẫn vang lên bên tai mọi người chúng ta và nhất là những chị em NPT.

Xin hãy dừng ngay tệ nạn NPT. Đó là tội ác giết người, giết chính những thai nhi là những đứa con của mình. Điều răn thứ 5 Chúa dạy: Chớ giết người, chúng ta không có quyền tước đoạt sự sống của con người.

Rất mong mỗi người chúng ta sẽ là một chiến sĩ BVSS, bảo vệ quà tặng VÔ GIÁ mà Thiên Chúa trao ban cho loài người chúng ta bằng cách cầu nguyện xin Chúa ngăn chặn tệ nạn NPT trên đất nước Việt Nam của chúng ta và trên toàn Thế Giới.

Maria Trần Thị Hường
Nhóm BVSS Hà Nội

Các khủng khoảng của giới trẻ trong thời đại mới

Dẫn nhập

Trong quá trình làm người, mỗi người nhận được biết bao nguồn giáo dục khác nhau: giáo dục tại gia, giáo dục tại trường lớp, giáo dục nơi Giáo Hội… Tất cả những nền giáo dục ấy đều nhằm mục đích đào tạo nên một con người toàn diện cả về nhân bản lẫn tâm linh. Trong mỗi lĩnh vực con người nhận được một nền giáo dục khác nhau. Khi nhắc về vấn đề giáo dục người ta dễ dàng liên tưởng đến việc giáo dục văn hoá tại trường lớp mà quên đi mảng giáo dục về tinh thần đóng vai trò không nhỏ trong việc hình thành nên con người. Vấn đề giáo dục tinh thần quan trọng hơn cả có lẽ là vấn đề giáo dục lương tâm.


Vấn đề lương tâm là vấn đề của toàn xã hội. Cho dù người có tôn giáo hay không tôn giáo vẫn cảm thấy mình phải làm điều thiện tránh điều ác. Con người có tâm ngay thẳng sẽ xây dựng một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội hôm nay, vấn đề lương tâm đang là vấn đề nhức nhối của thời đại. Sống trong xã hội văn minh tiên tiến, nhưng gần như con người lại đang đánh mất lương tâm của mình hoặc có lương tâm sai lạc. Đặc biệt trong giới trẻ, họ không còn cảm nhận được sự thôi thúc làm điều lành, tránh điều ác, họ hành động một cách xem thường luân lý, đạo đức, gia phong, thậm chí đôi lúc mất hết lương tâm: vụ Nguyễn Hải Dương và Vũ Văn Tiến, đều 24 tuổi trong vụ sát hại 6 người trong gia đình đêm 7/7/2015. Vì thế, vấn đề giáo dục lương tâm cần phải đặt lại.

Cách riêng, Giáo hội Công giáo có đường hướng giáo dục riêng của mình. Ngoài việc giáo dục để rèn luyện nhân cách con người sống hữu ích cho cộng đồng, giáo dục Kitô giáo còn nhắm đến việc giáo dục con người trở nên con Thiên Chúa. Hơn thế nữa, trước thực trạng xuống cấp về tình trạng luân lý, đạo đức của giới trẻ, giáo dục Kitô giáo ngày nay nhấn mạnh đến việc giáo dục lương tâm. Vậy Kitô giáo bằng hình thức giáo dục nào mới có khả năng đưa lương tâm người trẻ trở về với nẻo chính đường ngay?



1. Giới trẻ và những cơn khủng hoảng trong thời đại mới

Thế giới đang biến đổi từng ngày do bàn tay và khối óc của con người tác động lên nó. Các công trình nghiên cứu, những phát minh trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật ra đời được tính bằng cấp số nhân làm cho thế giới đạt đến nền văn minh vượt bậc. Sống trong xã hội mà các ngành khoa học chế tạo máy đã phát triển thay thế cho lao động chân tay, con người dường như cảm thấy mình được thoả mãn mọi nhu cầu trong cuộc sống. Cả guồng máy sản xuất hàng hoá, dịch vụ nhằm phục vụ con người cách tốt nhất, nhanh nhất, rẻ nhất. Đã qua rồi thời kỳ con người chỉ biết ăn no mặc ấm để tiến đến thời kỳ ăn ngon mặc đẹp. Mọi thứ như đang mời chào con người đến để hưởng dùng.

Trong xu hướng phát triển của xã hội, giới trẻ là thành phần nhạy cảm nhất với những thành tựu của khoa học kỹ thuật: máy tính, điện thoại, ipad, internet… Bởi lẽ họ là một bộ phận được thừa hưởng những thành quả ấy và là người tiếp bước trên con đường khoa học để đưa thế giới này bước sang trang mới. Tuy sống trong một xã hội văn minh, tiến bộ và đầy đủ tiện nghi như thế nhưng người trẻ hôm nay đang rơi vào trong cuộc khủng hoảng về ý nghĩa và căn tính của đời mình. Đôi lúc các bạn trẻ cảm thấy mình như bị cô đơn và trống rỗng.


2. Khủng hoảng về căn tính và ý nghĩa của cuộc sống

Khi đọc các tập sách phóng sự của tác giả Cù Mai Công và Vương Liễu Hằng bàn về giới trẻ Việt Nam, người ta không khỏi giật mình về những sinh hoạt không lành mạnh và không đúng đắn của một bộ phận giới trẻ ngày nay. Tất cả những hành động ấy như muốn nói lên rằng giới trẻ đang rơi vào trong cơn khủng hoảng mới của thời đại - khủng hoảng về ý nghĩa đời mình.

Trong cuộc sống, hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào, người ta đều phải có lối đi rõ ràng hay nói cách khác họ phải có định hướng. Tuy nhiên, giới trẻ hôm nay lại đang loay hoay để đi tìm định hướng cho đời mình. Không thiếu những người trẻ đang dần đánh mất hướng đi của mình do các trào lưu của xã hội hiện đại bày ra trước mắt họ. Điển hình là trào lưu tục hoá bành trướng theo đà phát triển của khoa học đã nhận chìm giới trẻ trong cơn mê của trào lưu hưởng thụ. Trào lưu này đã làm cho giới trẻ hôm nay “gần như chẳng còn một lý tưởng nào để tranh đấu và để sống! Các ý thức hệ lớn đã bị sụp đổ, bây giờ phải sống và đối diện với vực thẳm vô nghĩa của một xã hội tiêu thụ. Trong một mức độ nào đó, họ là nạn nhân của buổi giao thời, đang lần mò, quờ quạng trong tăm tối, với tâm sự bi đát và nỗi niềm lo riêng… để tìm một hướng đi cho cuộc sống”. Các hiện tượng phi chuẩn mực hay tha hóa trong tầng lớp người trẻ hôm nay có thể nói đều xuất phát từ hiện trạng bị chao đảo trong cơn bão thực dụng. Nhiều bạn trẻ cảm thấy chán sống vì họ không tìm được ý nghĩa cho đời mình. Khi không tìm được ý nghĩa sống, người trẻ dễ rơi vào những tệ nạn của xã hội, bi quan. Chính lối sống không định hướng làm cho người trẻ hôm nay trở nên hoang mang, bất mãn với hiện tại, thích hưởng thụ mà không lao động. Bên cạnh hiện trạng sống không định hướng, người trẻ hôm nay còn rơi vào một cuộc khủng hoảng khác - khủng hoảng về luân lý, đạo đức.


3. Khủng hoảng về luân lý, đạo đức


Có lẽ chúng ta đều thấy nền luân lý đạo đức của giới trẻ ngày nay đang xuống dốc một cách trầm trọng. Truyền thống đạo đức của cha ông hầu như không được mấy người trẻ quan tâm, để ý, thậm chí bị coi là lạc hậu, lỗi thời. Mọi hành động của người trẻ hôm nay đều dựa trên tự do, điều mà họ cho rằng họ có quyền sử dụng nó một cách tối đa. Chính vì thế, thảm trạng sống nháp thử trước hôn nhân, quan hệ trước hôn nhân, phá thai đang là vấn đề đau nhức của của các nhà luân lý và của những ai đang thao thức về tệ trạng này. Đối với người trẻ hôm nay, vấn đề luân lý, đạo đức không còn một tác động nào đối với họ, có chăng họ biết, nhưng hết sức coi thường. Xã hội sẽ phải tự hỏi đâu là nguyên nhân của thảm trạng này?

Khoa học hôm nay đã giải quyết được rất nhiều vấn đề trong cuộc sống mà trước đây con người vẫn coi đó là các hiện tượng của thần linh. Vì vậy, khoa học như đang muốn giản lược Thiên Chúa vào trong thế giới và nhắm đến chiều kích của con người tại thế. Điều này làm cho phong trào khử thiêng tục hoá được khai sinh. Trào lưu tục hoá tự bản chất và định nghĩa là một phong trào về tư tưởng và thái độ chủ trương một nền nhân bản tuyệt đối không có Thiên Chúa, bị thu hút bởi sự say mê hưởng thụ và tìm kiếm hưởng lạc mà không quan tâm gì đến mối nguy “mất linh hồn”. Thế nào trào lưu tục hoá cũng làm hao mòn cảm thức về tội. Cùng lắm tội chỉ còn là một điều xúc phạm đến con người. Như thế, trào lưu tục hoá đã làm cho giới trẻ ngày nay không còn cảm thức về tội, và họ có quyền hành động mà không quan tâm đến vấn đề luân lý, đạo đức. Nói cách khác, tiếng nói thâm sâu nơi người trẻ là tiếng nói của lương tâm không còn vang vọng trong đời sống của họ. Thực tế này đã được Đức Giáo Hoàng Piô XII diễn tả một cách ấn tượng: “tội của thế kỷ chúng ta là mất cảm thức về tội”. Nghĩa là chúng ta phạm tội mà không cho là mình phạm tội, chúng ta đang tìm đủ mọi lý luận để hợp thức hóa hành động phạm tội của mình.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Hạnh

Nguồn: thanhlinh.net

Thế giới đang đi về đâu

Câu hỏi đặt ra không liên quan gì đến vấn đề chính trị, kinh tế, quân sự của thế giới, mà chủ yếu là uy tư về vấn đề luân lý và đạo đức (moral & ethics) của thế giới hôm nay mà thôi

Thật vậy, những ai quan tâm đến luân lý, đạo đức thì phải ngao ngán trước thực trạng suy đồi nghiêm trọng về cả hai mặt này của thế giới hôm nay, đặc biệt là ở những quốc gia có truyền thống Kitô Giáo, như Ý, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Ái Nhĩ Lan (Ireland) Anh Quốc, Canada và Hoa Kỳ. Đây là những quốc gia có đông người theo Kitô Giáo (Công Giáo, Chính Thống, Tin Lành, Anh Giáo) nhưng nay lại sống phản Kitô giáo (anti-Christianity) cách rõ nét khi cho phép những thực hành vô luân vô đạo như làm ngơ cho sách báo, phim ảnh khiêu dâm được tự do lưu hành, cho li dị, phá thai và hôn nhân đồng tính (same sex marriage)


Đây là một thực trạng đáng buồn, đáng xấu hổ cho những ai thành tâm muốn sống cốt lõi của niềm tin Kitô Giáo và hãnh diện là tín hữu Kitô (Christians).

Sở dĩ thế, vì con người khác thú vật nhờ có đời sống tâm linh, có ý thức luân lý, đạo đức, khác biệt với loài vật chỉ có bản năng và hoàn toàn vô tri.Và đó là lý do tại sao vấn đề luân lý, vấn đề thưởng phạt chỉ đặt ra riêng cho con người mà thôi.

Nhìn vào thực trạng của thế giới hôm nay, người ta phải đau buồn vì các quốc gia có truyền thống Kitô Giáo nói trên đang tiến nhanh, tiến mạnh trên đường suy thoái đạo đức và luân lý, khi họ làm ngơ – hay tệ hại hơn nữa- là cho phép những thực hành mà tự bản chất là phi luân, vô đạo; như cho phép kỹ nghệ dâm ô (pornography) tự do tung hoành, gây tác hại tinh thần lớn lao cho giới trẻ và người lớn, cho phép phá thai và đang làm ngơ cho bọn Planned parenthood (bọn giúp phá thai) phạm thêm tội ác nữa là khai thác các thai nhi bị giết để lấy các bộ phận trong thân thể của thai nhi như mắt, tim, phổi v.v để bán cho những kẻ cần các bộ phận này, như báo chí Mỹ đang tố cáo. Cho tự do li dị và nay là hôn nhân đồng tinh, (same sex marriage) như một thách đố có tác dụng phá đổ nền tảng gia đình dựa trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ.

Gia đình -từ ngàn xưa- là nên tảng của mọi xã hội con người, là hy vọng của mọi dân tộc, – và cách riêng- là tương lai của Giáo Hội. Gia đình chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi có người làm cha, làm mẹ, làm chồng làm vợ. Con cải phải có cha có mẹ thì mới thực sự cảm nhận mình là con cái.

Vậy mà nền tảng gia đinh dựa trên những tương giao căn bản cần thiết nói trên đang bị các xã hội bệnh hoạn trên đây phá đổ, khi họ cho định nghĩa lại ý nghĩa và mục đích của hôn nhân để cho phép hôn nhân đồng tính.

Điều này, trước hết, hoàn toàn đi ngược lại mục đích của Thiên Chúa khi tạo dựng con người có nam có nữ và truyền cho họ mệnh lệnh “phải sinh sôi nẩy nở cho thật nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất.” (St 1: 28).


Đây là nên tảng luân lý, đạo đức và là mục đích của hôn nhân giữa một người nam và một người nữ từ khi có con người trên mặt đát này.

Vậy mà nay các xã hội bệnh hoạn nói trên cho phép hai người nam hay hai người nữ kết hôn, và gọi đó là hôn nhân như hôn nhân của một người nam và một người nữ từ xưa đến nay, thì làm sao chu toàn được mục đích nói trên của hôn nhân theo ý muốn của Thiên Chúa; nếu các quốc gia có truyền thông Kito Giáo nói trên còn tin có Thiên Chúa là Đấng tối cao, đã tạo dựng muôn loài muôn vật hữu hình và vô hình ?

Nếu tin có Thiên Chúa thì phải thi hành những gì Ngài mong muốn cho con người sống và làm để được chúc phúc ngay từ ở đời này trước khi được cứu độ để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu mai sau.

Do đó, cho muc đích sống theo đường lối của Thiên Chúa, con người phải sống một đời sống luân lý và đạo đức, để phân biệt mình với những kẻ vô thần (atheists), không tin có Thiên Chúa và luân lý phổ quát (universal moral).

Liên can đến vấn đề hôn nhân đồng tính, nếu cha mẹ của những người đang tán thành hôn nhân đồng tính, cũng là những người đồng tính, thì làm sao sinh ra được họ, để giờ đây họ nhắm mắt bịt tai công nhận hôn nhân giữa hai người đồng tính ? cha mẹ của họ phải là một người nam và một người nữ kết hôn đúng nghĩa với nhau thì mới sinh ra họ, và xã hội con người ở khắp nơi mới tồn tại cho đến ngày nay.

Nay vì muốn chiều theo ý muốn ngang trái của một thiểu số người sinh ra với khuynh hướng bất thường về phái tính (abnormally sexual tendency), người ta đã tán thành và cho phép hôn nhân đồng tính như một định chế tương đương với hôn nhân truyền thống giữa một người nam và một người nữ, như thực trạng của xã hội loài người từ xưa đến nay.

Chúng ta không lên án những người sinh ra với khuynh hướng khác thường nói trên. Nhưng chúng ta không thể công nhận việc công khai sống chung của họ là hôn nhân, như đại đa số những người bình thường khác, đã kết hôn cho mục đích duy trì nòi giống, và chu toàn trách nhiệm của hôn nhân theo ý muốn của Thiên Chúa, là Đấng đã tạo dựng con người có nam có nữ và đã se kết họ trong giao ước hôn nhân để công tác với Chúa trong chương trình sáng tạo nhằm có đông con người sinh ra trong trần thế này.



Chúa Kitô, khi xuống trần gian làm Con Người, cũng đã chọn sinh ra trong một gia đình có mẹ thật là Đức Trinh Nữ Maria, thụ thai nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, và có cha nuôi là Thánh Cả Giuse. Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Giuse chắc chắn là những người bình thường về mọi mặt như mọi con người khác. Hai ông bà kết hôn vì phong tục tập quán của xã hội Do Thái và cũng vì thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa chọn cho Con Một của mình là Chúa Giê su- Kitô sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Nhưng trước mặt người đời, Mẹ Maria không thể có con mà không có chồng. Vì thế, Thánh Giuse đã được chọn để đóng vai người chồng của Mẹ Maria trước mặt người đời. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, hai ông bà đều là những người yêu mến đức đồng trinh và muốn tôn vinh Thiên Chúa với đời sống khiết tịnh vẹn toàn của mình.

Thánh gia thất Chúa Giê su, Mẹ Maria và Thánh Giuse là khuôn mẫu cho mọi gia đình nhân loại. Gương mẫu cho mọi con cái, cho những người làm cha, làm chồng, làm vợ và làm mẹ .Đây là thánh ý của Thiên Chúa cho những ai được ơn gọi sống bậc hôn nhân để làm cha, làm chồng, làm vợ và làm mẹ để nuôi dạy con cái là kết quả và là muc đích của hôn nhân thánh thiện theo kế hoạch của Thiên Chúa, được Chúa Giê su nâng lên hàng bí tích với lời dạy sau đây:

Để trả lời những người Biệt phái đến hỏi Chúa Giê su xem người ta có được phép li dị không, Chúa đáp: Các ông không đọc thấy điều này sao ? “Thuở ban đầu, Đấng tạo hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán : vì thế người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt . Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân li.” (Mt 19: 4-6)

Trên đây là giáo huấn của Chúa Giê su mà Giáo Hội có bổn phận truyền dạy cho con cái mình tôn trọng và thi hành để được cứu rỗi.Giáo huấn này không ai được phép cắt nghĩa cách khác và thay đổi vì bất cứ lý do nào.

Mới đây, trong dịp tiếp kiến các Giám mục của Công Hòa Đô-mi-nícan ngày 28 tháng 5 vừa qua, Đức Thánh Cha Phanxi cô đã nói với các giám mục như sau:

“Chúng ta hãy tiếp tục phô bày vẻ đẹp của hôn nhân Kitô giáo: kết hôn trong Chúa là một hành động của đức tin và đức ái: qua đó người phối nhẫu với tự do ưng thuận, trở thành phương tiện chuyên chở phép lành và ơn phúc của Thiên Chúa cho Giáo Hội và xã hội.”

(Let us continue to present the beauty of Christian matrimony: to marry in the Lord is an act of faith and love, in which the spouses- through their free consent, become a means of passing on the blessing and grace of God for the Church and society. (L ‘Osservatore Romano, number 23, Friday, June 5, 2015)

Như thế, hôn nhân Kitô giáo không thể là hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ có khuynh hướng đồng tính được, mà phải là hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, theo ý muốn của Thiên Chúa, Đấng tạo dựng con người có nam có nữ; và cũng là truyền thống đã có từ bao thế hệ qua trong mọi nền văn hóa, phong hóa của mọi dân tộc trên thế giới từ xưa đến nay.

Đây là vấn đề có liên quan mật thiết đến luân lý và đạo đức, là nền tảng của đời sống con người, chứ không phải là vấn đề tôn trọng quyền sống của cá nhân ai như người ta đang nại ra để cho phép hôn nhân đồng tính.


Đó là vấn đề luân lý, đạo đức, vì luân lý phổ quát dạy mọi người là phái tính (sexuality) chỉ tự nhiên giữa một người nam và một người nữ tự do kết hôn với nhau theo truyền thống và phong hóa của mọi dân tộc.

Dó đó, hai người nam hay hai người nữ mà có liên hệ phái tính với nhau thì đây là điều trái tự nhiên (unnatural) và vô luân (immoral)

Tác giả Sách Lê vi đã lên án sự phối hợp phái tính trái tự nhiên nói trên như sau:

“ khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm…” (Lê vi 20: 13)

Như vậy, công nhận cho hai người đàn ông hay hai đàn bà kết hôn có nghĩa công nhận sự vô luân về phái tính; hay nói khác đi, công nhận sự chung đụng xác thit giữa hai người nam hay hai người nữ là điều cũng tự nhiên như sự chung đụng của một người nam và một người nữ kết hôn trong mọi gia đình nhân loại từ xưa đến nay ?

Nếu thế thì những việc vô luân khác như thủ dâm (masturbation) loạn dâm = loạn luân (incest) ấu dâm (child prostitution) và thú dâm (sodomy), thông dâm (fornification) ngoại tình (adultery)… đều không còn là những hành vi vô luân nữa, vì chúng đều xuát phát từ những khuynh hướng hay ước muốn vô trật tự và vô luân (inordinate, immoral) của con người !, tương tự như huynh hướng đồng tính bất thường mà người ta đang cho phép người có khuynh hướng này kết hôn, tức là công nhận việc ăn nằm của họ là không có gì ngăn trở về luân lý !!!

Đây rõ rệt là một suy thoái nghiêm trọng về luân lý hôn nhân, và luân lý phổ quát (universal moral) của các xã hội bệnh hoạn nói trên. Chắc chắn Giáo Hội sẽ không bao giờ cho phép hay công nhận loại hôn nhân đồng tính này, vì nó vừa sai trái nặng về mặt luân lý – và nghiêm trọng hơn nữa- là đi ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa về ý nghĩa và mục đích của bí tích hôn phối mà Giaó Hội có bổn phận bảo vệ và thi hành không chút nhân nhượng.

Giáo Hội không lên án những người có khuynh hướng đồng tính, nhưng không thể cho phép họ sống chung như vợ chồng được, vì việc sống chung này là điều trái tự nhiên và vô luân. Do đó, những ai đang sống trong tình trạng này thì không được đến với hai bí tích hòa giải và Thánh Thể, mặc dù họ vẫn có thể đến nhà thờ để cầu nguyện và tham dự Thánh Lễ cùng với các giáo dân khác.

Sau hết, một điểm thắc mắc không thể bỏ qua là những đứa trẻ được các cặp hôn nhân đồng tình này nhận làm con nuôi, thì chúng sẽ nghĩ gì về việc chúng chỉ có hai bà mẹ hay hai người cha trong gia đình? Và gương xấu này sẽ tác hại ra sao khi các trẻ đó lớn lên với hai người cha hay hai người mẹ??? Nếu chúng cũng là những đứa trẻ sinh ra với khuynh hường tính dục khác thường như người nuôi dạy chúng, thì không nói làm chi. Những nếu chúng- mà đa số chắc chắn như vậy- là những trẻ sinh ra với mọi khuynh hướng bình thường, thì việc sống chung với những người bất bình thường kia sẽ là một tai hại lớn cho chúng về mặt tình thần, tình cảm và luân lý. Như thế, những kẻ cho phép hôn nhân đồng tính sẽ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về những tai hại tinh thần, tình cảm và ý thức luân lý của các trẻ được nuôi dạy trong môi trường đồng tính.

Vậy những kẻ đang nhắm mắt công nhân hôn nhân đồng tình sẽ trả lời thế nào về nan đề nói trên, liên quan đến các trẻ em được các người đồng tính nhận nuôi dạy trong các gia đình bất bình thường của họ ?

Tóm lại, định nghĩa lại hôn nhân để công nhận hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ là một suy thoái nặng nề về luân lý và đạo đức cần phải quan tâm và lên tiếng trước thực trạng đáng buồn của thế giới tục hóa hiện nay.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Bảo vệ sự sống con người


Điều răn thứ năm đặt sự sống con người – trong mọi giai đoạn và mọi chiều kích – dưới sự che chở đặc biệt của Thiên Chúa. Điều đó bao gồm việc bảo vệ sự sống thân xác cũng như linh hồn. Chính vì thế, khi trình bày điều răn thứ năm, Sách GLHTCG bàn đến “gương xấu” như là sự xúc phạm đến việc “tôn trọng linh hồn tha nhân” (số 2284).
Dẫn người khác đến chỗ làm điều xấu là giết chết linh hồn người ta. Chính vì thế Chúa Giêsu nguyền rủa những kẻ làm gương xấu cho “một trong những người bé mọn tin vào Ta” (Mt 18,6). Gương xấu có thể phát xuất từ ứng xử cá nhân, nhưng cũng còn từ những lề luật thúc đẩy gương xấu hoặc không chống lại gương xấu cho đủ mạnh, cũng như từ những người lèo lái dư luận, gây hậu quả tai hại và tàn phá sự sống linh hồn. Mối nguy hiểm cho sự sống thân xác không đáng sợ bằng những đe doạ sự sống linh hồn. Cho dù ngày nay nhiều người không còn coi việc “cứu linh hồn” là mục đích tối thượng, nhưng lời cảnh cáo của Chúa Giêsu vẫn còn nguyên giá trị: Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có ích chi (Mt 16,26)?

Do đó, việc bảo vệ sự sống con người được bắt đầu từ chỗ kính trọng linh hồn của tha nhân. Nếu sự kính trọng này không đủ mạnh thì sự kính trọng thân xác người khác cũng sẽ bị lụi tàn. Cũng vì thế, “nền văn hoá sự sống” đòi hỏi việc “vun đắp linh hồn”. Nền văn hoá sự sống chỉ phát triển khi sự sống linh hồn – mối tương quan sống động với Thiên Chúa – được vun trồng. Việc tôn trọng sự sống thân xác cũng như linh hồn của tha nhân sẽ lớn mạnh cùng với mức độ chúng ta tin vào sự chăm sóc của Thiên Chúa đối với con người, khi chúng ta hiểu được rằng mình quý giá dường nào trước mặt Chúa, và Chúa Giêsu phải trả giá đắt thế nào để cứu độ chúng ta.

“Mọi người, từ trong lòng mẹ, đã thuộc về Chúa là Đấng tìm kiếm và biết họ… Đấng dõi theo họ ngay từ khi họ mới chỉ là những phôi chưa thành hình dạng, đã nhìn thấy nơi họ những con người của tương lai với năm tháng ngày giờ, và ơn gọi của họ đã được viết trong Sách sự sống” (Tin Mừng sự sống, số 61). Đây là lý do Hội Thánh cương quyết trả lời KHÔNG đối với việc phá thai, đồng thời cố gắng đồng hành và nâng đỡ các bậc cha mẹ đang gặp khó khăn để họ chống lại cơn cám dỗ phá thai.

An tử (euthanasia) cũng là một chủ trương đe doạ sự sống con người. Một đàng, “việc ngưng các phương tiện y khoa quá tốn kém và mạo hiểm, ngoại thường hoặc không tương xứng với những kết quả mong muốn, có thể là hợp pháp” (số 2278); đàng khác, ngày càng có nhiều tiếng nói cho rằng cuộc sống của người khuyết tật, bại liệt, mắc bệnh nan y, là “những cuộc đời không đáng sống” và đòi được phép giết những người đó. Tương tự như thế, những nỗ lực đòi coi việc tự tử là chuyện bình thường, hơn nữa còn muốn tôn vinh nó, tất cả là thành phần của thứ văn hoá sự chết (số 2282).

Ngoài ra, chủ trương tôn thờ thân xác (số 2289) thật ra cũng đang cổ võ cho thứ văn hoá thù nghịch sự sống: “Mặc dù luân lý đòi phải tôn trọng sự sống thể xác, nhưng luân lý không dành cho nó một giá trị tuyệt đối”. Nếu cho rằng chỉ có những thân xác khỏe mạnh và hấp dẫn mới đáng sống, thì vô tình hay hữu ý, xã hội không còn chỗ cho người đau yếu, tật nguyền và lệ thuộc người khác. Việc tôn trọng và bảo vệ sự sống đích thực phải được khơi dậy từ nhận thức rằng mọi sự sống con người – không loại trừ ai – đều quý giá trước mặt Thiên Chúa và ở dưới sự che chở của Ngài.

ĐHY Christoph Schönborn

(Trích từ cuốn "Tìm hiểu Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo", phần III, bài 40)