Tổng Giám Mục Aussie cảnh báo việc phá thai có thể dẫn đến thuyết ưu sinh

Đức Tổng Giám Mục Mark Coleridge Địa phận Brisbane, Australia, đã tự nhận thấy mình như đang ở giữa hàng loạt các phương tiện truyền thông cho thấy rằng việc hợp pháp hóa các thủ tục như phá thai trên cơ sở giới có thể mở cửa cho thuyết ưu sinh (*) đối với sự lựa chọn như thế giới đã chứng kiến dưới thời Đức quốc xã và chúng ta lại có thể chứng kiến trong thời đại ngày hôm nay.


Hôm thứ Hai vừa qua, Đức TGM Australia Mark Coleridge cho biết có một mối liên hệ giữa việc phá thai và lạm dụng trẻ em, và một Giáo Hội “vốn mạnh mẽ trong việc bảo vệ trẻ chưa được sinh ra đã trở nên kém mạnh mẽ hơn trong việc bảo vệ trẻ em và dễ bị tổn thương bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu”.

Tương tự – Đức TGM Coleridge cho biết thêm – điều này cũng chính xác đối với chính phủ.

Đức TGM Coleridge đã đưa ra những ý kiến nhận định của mình về một video được chia sẻ trên trang web Giáo phận Brisbane của ngài. Ngài hiện đang là một trong nhiều vị Giám mục của Giáo hội Công giáo đang tham gia các buổi điều trần chính thức của Ủy ban Hoàng gia Australia đối với những phản ứng mang tính chất tổ chức đối với các trẻ em bị lạm dụng tình dục trong Giáo Hội Công Giáo.

Tuần trước trong một cuộc biểu tình ủng hộ bảo vệ sự sống, Đức TGM Coleridge đã được một nhà báo phỏng vấn trong việc cân nhắc trong cuộc tranh luận đang diễn ra tại Queensland về việc hợp pháp hóa phá thai. Theo qui định hiện hành, cả những người phụ nữ tìm cách phá thai và các bác sĩ cung cấp các thủ tục có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ khi nó được thực hiện nhằm ngăn chặn mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần của người phụ nữ.

Trong cuộc phỏng vấn, như TGM Coleridge đã phát biểu trong bài chia sẻ của mình, Đức TGM Coleridge đã được hỏi về những công nghệ mới có thể phát hiện khuyết tật cũng như phá thai trên cơ sở giới.

“Tôi không thể không đồng ý với những gì ông đã nói, bởi vì thuyết ưu sinh là một phần của sự phức tạp xung quanh việc phá thai”, Đức TGM Coleridge nói. “Các phóng viên đã đề cập đến thuyết ưu sinh của Đức Quốc xã, và một lần nữa tôi không thể phủ nhận một thực tế lịch sử”.

Phó Thủ tướng Jackie Trad – một người Công giáo ủng hộ quyền phá thai, đã trả lời thông qua Facebook, bà cho biết bà không những là một người Công giáo mà còn là một người phụ nữ, và bà “đơn giản chỉ là không đồng ý với các quan điểm của Giáo hội về quyền của phụ nữ trong việc tự do lựa chọn”.

“Đó cũng là một điều đáng buồn khi chúng ta đã bị hạ thấp trong cuộc tranh luận này và quyền phá thai của những người phụ nữ được đem ra so sánh với Đức Quốc Xã”, bà Trad viết.

Điều đó – theo Đức TGM Coleridge – không phải là quan điểm của những điều ngài đã nói, nhưng thay vì thực tế là pháp luật được đề xuất tại Queensland có thể mở cửa “cho các loại thuyết ưu sinh mà chúng ta đã chứng kiến trước đó và hiện nay chúng ta đang chứng kiến ở nhiều nơi thế giới”.

“Điều đó phải thực hiện bằng chính sách pháp luật, chứ không phải là cá nhân những phụ nữ người quyết định phá thai”, TGM Coleridge nói.

TGM Coleridge, hay Giáo hội Công giáo đối với vấn đề đó, thì xa vời đối với việc trở thành người đầu tiên đề khởi những rủi ro của việc phá thai dựa trên di truyền.

Chẳng hạn như, vào cuối tháng Giêng vừa qua, Lord Kevin Shinkwin -một thành viên thuộc Nghị viện Vương quốc Anh, đã đưa ra bài phát biểu, trong đó ông cho biết: “Tôi có thể nhận thấy từ những xu hướng trong việc phá thai vì lý do khuyết tật là một điều gì đó tồi tệ đối với những người như tôi”.

Shinkwin – một người khuyết tật – tiếp tục cho biết rằng những người bị khuyết tật bẩm sinh đang phải đối mặt với nguy cơ bị tiêu diệt.

“Nếu chúng ta là những loài động vật, có lẽ chúng ta phải hội đủ điều kiện để được bảo vệ như những loài đang trong tình trạng nguy cấp”, ông nói. “Nhưng chúng ta chỉ là những người khuyết tật, vì vậy chúng ta không thể”.

Đức TGM Coleridge cũng phát biểu về những nhận định của bà Trad liên quan đến quan điểm của Giáo hội về quyền của phụ nữ trong việc tự do lựa chọn, Ngài nói rằng đây là phát biểu chẳng đáng tin cậy, khiến cho bản thân Ngài hoặc các tổ chức coi bộ như có vẻ chống lại phụ nữ vồn đã “là một ấn tượng chung”.

Tuy nhiên – Đức TGM Coleridge lập luận – “vị thế của Giáo Hội đó là chân thành ủng hộ phụ nữ. Phụ nữ đã bị làm tổn hại bởi việc phá thai, vốn chỉ là một giải pháp ngắn hạn hàng đầu và thường gây rắc rối về lâu về dài”.

Kế đến, cũng có một thực tế rằng nhiều phụ nữ lựa chọn phá thai vì họ hoặc là cảm thấy hoặc là bị ép buộc cảm thấy như họ không có sự lựa chọn, và chẳng có sự lựa chọn nào khác được giới thiệu với họ.

“Việc nói về quyền lựa chọn của phụ nữ gợi lên những vấn đề khác về quyền: Quyền của những đứa trẻ chưa được sinh ra là gì, hoặc là chúng chẳng có quyền gì cả, hoặc là chúng chẳng có tư cách pháp nhân thực sự? Quyền của người phối ngẫu hoặc đối tác của người phụ nữ trong việc cân nhắc phá thai là gì? Quyền của xã hội nhằm đảm bảo quyền được sống như một nền tảng mà trên đó tất cả các quyền khác được xây dựng là gì? Quyền lương tâm là gì?”.

Trong cuộc phỏng vấn, Đức TGM Coleridge cũng nói về sự mâu thuẫn của một chính phủ vốn phản đối mạnh mẽ bạo lực gia đình nhưng lại ủng hộ việc tiếp cận nhiều hơn đối với việc phá thai, mà theo giáo huấn Giáo Hội, cũng như nghiên cứu khoa học nhiều trong 3 tháng đầu của thời kì thai nghén, điều đó có nghĩa là chấm dứt một sự sống con người.

Theo tờ The Daily Telegraph, hôm thứ hai, bà Trad cho biết bà “đã có ý tưởng rằng có lẽ đã có tầm quan trọng hơn trong việc tập trung vào kết quả của những phát hiện của Ủy ban Hoàng gia về vấn đề Lạm dụng trẻ em và vai trò của Giáo hội Công giáo trong đó hơn là pháp luật trước Quốc hội Queensland”, vốn đã thúc đẩy những phản ứng của Đức TGM Coleridge.

Minh Tuệ chuyển ngữ

Theo DCCTVN

Thuyết ưu sinh (eugenics): là học thuyết nổi tiếng những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Học thuyết cho rằng, các chủng tộc loài người có thể cải tiến bằng cách nhân giống chọn lọc có kiểm soát, tạo ra những đứa trẻ với đặc điểm mong muốn, tính trạng hoàn hảo về sức khỏe, vóc dáng, trí tuệ.

Liên Hiệp Quốc nói rằng chống phá thai là một hình thức tra tấn

Trung tâm Âu châu về Luật pháp và Tư pháp, trong một báo cáo hôm thứ Năm, 15 tháng 5, Liên Hiệp Quốc đã lên án việc giết hại trẻ sơ sinh sống sót sau khi phá thai ở Vương quốc Anh, trong bối cảnh của việc kiểm tra định kỳ của Vương quốc Anh bởi Ủy ban về Quyền trẻ em.

Theo một số chuyên gia của Liên Hiệp quốc, chống phá thai sẽ là một hình loại tra tấn, vi phạm quyền trẻ em. Lời cáo buộc như vậy quả là tai tiếng; trắng trợn làm suy yếu tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và các nghi vấn về tính lương thiện của một số thành viên nổi bật của Ủy ban. Nó đã được xây dựng gần đây chống lại Tòa Thánh bởi các thành viên của Ủy ban chống tra tấn của Liên Hiệp quốc chống lại giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo đối với sự thiêng liêng của sự sống.

Đầu năm nay, vào tháng 2, một Ủy ban khác của Liên Hiệp quốc, về Quyền trẻ em (CRC), “kêu gọi” Tòa Thánh xem xét lại vị trí của mình về phá thai và sửa đổi Luật Canon để cho phép phá thai. Ủy ban này của Liên Hiệp quốc lấy cớ chống phá thai sẽ vi phạm các quyền của trẻ em, bỏ qua thực tế Công ước về Quyền trẻ em thừa nhận “cần phải có những biện pháp bảo vệ và chăm sóc trẻ em đặc biệt, bao gồm bảo vệ pháp lý phù hợp, trước cũng như sau khi sinh.”

Tòa Thánh trả lời những cáo buộc ấy bằng cách nói rằng mục tiêu của nó thực sự phải là, “ngăn chặn trẻ em khỏi bị tra tấn hoặc bị giết trước khi sinh, như được quy định trong Công ước.” Ủy ban của Liên Hiệp quốc bao gồm các “chuyên gia” do các quốc gia thành viên. Họ thường là các học giả hoặc các nhà hoạt động phi chính phủ (NGO) với một nền chính trị.


Những cáo buộc chống lại phe đối lập đạo đức để phá thai là động thái cuối cùng của một chiến lược dài hạn áp đặt trên các quốc gia, thông qua luật pháp quốc tế và các cơ quan, một “quyền con người đối với việc phá thai,” và kết luận phe đối lập đối với phá thai là một tội ác. Những nhóm vận động phá thai hiện nay rất tích cực vì họ muốn đưa việc phá thai trong “chương trình nghị sự phát triển sau năm 2015,” viện lý do là cải thiện sức khỏe của các bà mẹ trên toàn thế giới. Chương trình nghị sự sau năm 2015 này, thương lượng tại Liên Hợp Quốc, sẽ xác định các mục tiêu ưu tiên phát triển trong nhiều thập kỷ tới. Nó sẽ được hỗ trợ bởi hàng tỷ Mỹ kim, và các chính phủ sẽ phải thực hiện. Vì vậy, vấn đề đe dọa là rất lớn.

Trong những thập kỷ qua, đặc biệt là hội nghị ở Cairo và Bắc Kinh về dân số, phát triển và phụ nữ, lực lượng ủng hộ việc phá thai đã bị ngăn chặn bởi một liên minh các quốc gia, dẫn đầu là Tòa Thánh. Điều này giải thích các hoạt động hiện nay về sự bất ổn và các cuộc tấn công chống lại Giáo Hội Công Giáo trong Liên Hiệp quốc: đó là nhằm mục đích làm suy yếu ảnh hưởng của nó trong các cuộc đàm phán tiếp theo.

Mục tiêu cuối cùng của chiến lược phá thai là để giành chiến thắng trên các lĩnh vực của các giá trị: thực hiện phò sự sống vô đạo đức và đạo đức ủng hộ phá thai, và để bịt miệng vận động phò sự sống. Điều này sẽ là một sự đảo ngược hoàn toàn các giá trị: thật vậy, trong thực tế, phá thai là tra tấn và gây tử vong cho người mẹ. Phá thai, dù hợp pháp hay không, không chỉ giết chết một con người mà còn mang những rủi ro sức khỏe thể chất và tâm lý nghiêm trọng và góp phần vào tỷ lệ tử vong bà mẹ. Các quốc gia hạn chế phá thai có tỷ lệ tử vong bà mẹ thấp hơn so với những quốc gia tạo điều kiện cho việc phá thai.

Ứng phó với những cuộc tấn công, ECLJ, là một tổ chức phi chính phủ có tư cách tư vấn với ECOSOC của Liên Hiệp quốc, đã cực lực lên án phá thai, đặc biệt là phá thai muộn hạn, như một loại hình đặc thù của tra tấn và vi phạm quyền trẻ em.

Vào tháng 3 năm 2014, ECLJ đã đưa ra lời can thiệp và một tuyên bố bằng văn bản (A/HRC/25/NGO/91) trước Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp quốc, tại Geneva, tố cáo việc thực hiện phá thai muộn hạn và giết hại những em bé sống sót.

Sau đó, vào tháng 4 năm 2014, trong một “kháng cáo khẩn,” ECLJ kêu gọi các báo cáo viên đặc biệt của LHQ về tra tấn thực hiện một cuộc điều tra về trẻ em sống sót sau phá thai muộn hạn, và về phương pháp phá thai muộn hạn, đặc biệt là ở Vương quốc Anh và Canada: ở Gia Nã Đại, từ năm 2000 đến 2011, có 622 trẻ sơ sinh sống sót sau khi phá thai; và vào năm 2005, Vương quốc Anh có 66 trường hợp như vậy. ECLJ khẳng định rằng phương pháp phá thai tàn nhẫn muộn hạn cấu thành tra tấn, đặc biệt được gọi là nong ra và rút khỏi - thai nhi vẫn còn sống, được cắt ra và kéo ra khỏi bụng mẹ từng miếng. ECLJ hy vọng báo cáo viên đặc biệt phải hành động.


Hiện nay, ECLJ cũng dẫn đầu một liên minh của NGO tố cáo trước Ủy ban Liên Hiệp quốc về Quyền trẻ em, giết hại trẻ sơ sinh sống sót sau phá thai, trong bối cảnh của việc xem xét định kỳ của Vương quốc Anh. Hiện nay, ủy ban này gửi một báo cáo cho Ủy ban Liên Hiệp quốc về Quyền trẻ em. Ủy ban này nên đặt câu hỏi cho chính phủ Anh về những lời buộc tội của chúng ta và đưa vào việc xem xét cho việc soạn thảo báo cáo chính thức.

ECLJ sẽ tiếp tục ủng hộ cho sự tôn trọng sự sống, cả ở Liên Hiệp quốc và các tổ chức Âu châu, sử dụng tất cả các thủ tục pháp lý có sẵn.

Trong khi có bằng chứng rõ ràng về hàng trăm trường hợp thực sự tra tấn và giết trẻ sơ sinh ở các nước như Anh và Gia Nã Đại, câu hỏi là liệu các cơ quan nhân quyền của Liên Hiệp quốc, chẳng hạn như Ủy ban Liên Hiệp quốc về Quyền trẻ em và chống tra tấn sẽ chứng minh mình có thẩm quyền và đủ độc lập để thực hiện nghĩa vụ của họ. Ngày nay, có một nhu cầu cấp thiết cho họ để chứng minh sự lương thiện của họ.

Jos. Tú Nạc, NMS


Theo thanhlinh.net

Năm Gia Đình, đọc Tông huấn Gia Đình của vị “Giáo Hoàng của gia đình”

Năm 2014 là Năm Gia Đình. 2014 cũng là năm Hội Thánh tuyên Thánh cho tác giả của Tông Huấn Gia Đình, Đức Gioan Phaolô II. Để tưởng nhớ vị Giáo Hoàng được mệnh danh là “Giáo Hoàng của Gia Đình”, xin hãy cùng chúng tôi đọc một số đoạn trong Tông Huấn Gia Đình, có đối chiếu với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay.



1. Gia đình đang bị bóng tối ụp xuống

Tông Huấn nói đến các bậc cha mẹ, các đôi vợ chồng và con cái trong nhà. Ba thành phần này của gia đình đều có “hoàn cảnh, vấn đề, âu lo và hy vọng”.

“Các phương tiện truyền thông xã hội đầy quyền lực [ … ] rất tinh vi có thể làm cho con người mất tự do và mất khả năng phán đoán khách quan” (Xin bạn nhớ lại xem: tivi, radio, web, blog, facebook... có ảnh hưởng ít nhiều lên bạn và con cái bạn) ? Tông Huấn Gia Đình nói thẳng đến ảnh hưởng tiêu cực của truyền thông: Đề nghị của truyền thông có dáng điệu hấp dẫn nhưng “không nhiều thì ít, sẽ nguy hại cho chân lý và phẩm giá con người” (THGĐ, 4).

Số 6 của Tông Huấn Gia Đình sao lại “bi quan” thế nhỉ ? “Con người đang chống lại tình thương của Thiên Chúa” (Bạn có thấy dấu hiệu “chống lại Chúa” từ ba thành phần gia đình) không ? Tông Huấn dùng cả tới từ ngữ “thoái hóa đáng lo ngại”.

Giữa vợ chồng, đã có quan niệm sai lầm về tính độc lập (bạn có thấy có chuyện vợ đi đằng vợ, chồng đi đằng chồng, mạnh ai nấy giữ tiền riêng, lôi thôi là sẵn sàng ly thân ly dị hay chưa ?)

Con cái không còn coi trọng uy quyền của bố mẹ nữa (bạn có thấy bố mẹ sợ con tự tử, sợ con bỏ nhà ra đi, bố mẹ không dám mắng mỏ con như trước nữa không ?)

Gia đình đang mất những giá trị truyền thống của mình. Gia đình không chuyển tải cho con cái những giá trị của tổ tiên, dân tộc (bạn có thấy khó mà bảo con cái mặc áo dài đi lễ, khó mà bắt chúng đi tết, đi thăm họ hàng làng mạc hay không ?).

Gia tăng con số ly dị, phá thai, triệt sản (bạn có biết rằng ngay cả gia đình Công Giáo bây giờ cũng không tránh nổi ba con siêu vi trùng này). Nếu không có phá thai thì làm gì mà có xuất hiện ngày càng tăng các nhóm Bảo Vệ Sự Sống ở cả ba miền đất nước !

Trong trí óc con người ngày nay, hình thành não trạng sợ mang thai (Tông Huấn Gia Đình đề cập đến sự “hình thành não trạng chống thụ thai”).

Bóng tối ụp xuống gia đình là do có “suy đồi trong quan niệm và trong kinh nghiệm về tự do” (bạn thấy vợ chồng bây giờ dễ ly thân ly dị khi họ cảm thấy họ bị mất tự do, người kia làm mình bị bó buộc, bị mất thoải mái cá nhân. Họ hiểu tự do là tự lập, tự xác định mình. Trong khi đó, Giáo Hội lại dạy tự do là khả năng thực hiện sự thật Thiên Chúa vạch ra cho hôn nhân và gia đình).

Số 6 của Tông Huấn Gia Đình nói rất đúng về “bóng tối” Việt Nam: “Các gia đình thiếu thốn từ những phương tiện căn bản để sống còn, như thực phẩm, việc làm, nhà cửa, thuốc men, cho đến cả những tự do sơ đẳng nhất”.

Xin bạn tự bắt mạch căn bệnh gia đình Việt Nam và đối chiếu với chẩn đoán bệnh gia đình của các nước thuộc thế giới thứ ba mà Tông Huấn Gia Đình đề cập. Theo bạn, Việt Nam chúng ta thuộc thế giới nào ? Gia đình Việt Nam có lo lắng gì về thực phẩm, việc làm, nhà cửa, thuốc men, tự do ?

Số 6 hé mở cái nhìn sang gia đình các nước giàu có, “bề ngoài cười nụ nhưng bề trong khóc thầm”: “Trớ trêu thay, sự thoải mái và óc hưởng thụ ấy lại gắn liền với một thứ âu lo nào đó, cảm thấy bấp bênh trước tương lai, nên các đôi bạn mất sự quảng đại và can đảm để làm phát sinh thêm những sự sống mới: Người ta không còn coi sự sống như là một lời chúc phúc, nhưng lại coi như một sự nguy hiểm phải tránh né”.

Bạn thừa biết, bên Nhật bên Tây nay ít trẻ em lắm. Các nhà thuốc Tây bên Việt Nam nay cũng bán thoải mái các loại thuốc ngừa thai và bao cao su !?!

Số 6 tóm kết hiện tình các gia đình bằng cụm từ “cuộc chiến giữa những mối tự do đối nghịch nhau, nghĩa là, nói theo Thánh Augustinô, một cuộc xung đột giữa hai tình yêu: một bên là lòng yêu mến Thiên Chúa đến độ coi rẻ chính mình và một bên là lòng yêu mình đến độ coi rẻ Thiên Chúa”: Hai quan niệm về tự do đang đối nghịch và xung đột nhau. (bạn có bị giằng xé về tự do ? Tự do là muốn làm gì thì làm, hay là tự do tìm và thực hiện ý Chúa ?)

Số 7 của Tông Huấn Gia Đình nói là có lúc người Công Giáo đã bị truyền thông đánh bại, đã bị “lây nhiễm tình trạng các giá trị căn bản bị lu mờ”. Có vị Tu Sĩ báo động: Các bà mẹ Công Giáo hiện nay cũng triệt sản, cũng phá thai như ai ! Nếu vậy, thật đáng lo !

Số 7 nói đúng “y chang” Việt Nam ta: Ta vô cảm, ta im lặng, ta tránh nói dù truyền thông Nhà Nước nói ngược ý Chúa về gia đình: “Không phải lúc nào họ cũng biết đứng ra đóng vai ý thức phê phán đối với thứ văn hóa về gia đình”.

2. Phác thảo phương thế trị bóng tối gia đình

Số 7 cho ta tổng kết về bóng tối ụp xuống gia đình: “Có sự phủ nhận những nguyên tắc luân lý hướng dẫn và thực hành tính dục trong hôn nhân cách nhân bản và Kitô”.

Bạn có biết là Giáo hội đang thiết tha mời gọi chúng ta đi học Giáo Lý cho người trưởng thành để chúng ta sẽ không phủ nhận nguyên tắc luân lý Kitô Giáo ?

Số 9 của Tông Huấn Gia Đình tái khẳng định nguyên nhân của bóng tối gia đình, đó là tội lỗi. Nó “ăn sâu vào trong các cơ cấu thế giới, thường ngăn cản gia đình”.

Không chỉ nêu ra các thứ bệnh gia đình, Tông Huấn Gia Đình còn đề nghị 4 phương dược chữa trị:

- GIÁO DỤC LƯƠNG TÂM (8)

- HOÁN CẢI (9)

- TỪ BỎ ÍCH KỶ (9)

- TRỞ LẠI KẾ HOẠCH NGUYÊN THỦY CỦA THIÊN CHÚA VỀ GIA ĐÌNH (10)

Đọc Tông Huấn Gia Đình, lòng ta bồi hồi, nhớ mãi không quên bóng hình Đức Gioan Phaolô II, luôn ghé mắt trông theo các bậc cha mẹ, các đôi vợ chồng, các đàn con lớn nhỏ.

Thánh Gioan Phaolô II lúc sinh tiền muốn hậu thế sẽ nhớ đến mình như một “vị Giáo Hoàng của Gia Đình”, xin ngài hãy cứu lấy các gia đình chúng con.

Xin bạn lắng nghe lời ngài và tìm đến các lớp Giáo Lý. Nơi ấy, bạn sẽ gặp những Tu Sĩ, Linh Mục rất thiết tha với gia đình. Bạn sẽ gặp những Giáo Dân “lo âu” cho gia đình trước bóng tối đang ụp xuống.

Chúng ta sẽ cùng nhau “lên đường, dựng lại người, dựng lại nhà, xây lại Việt Nam”. Hãy “đóng vai những người tích cực xây dựng một nền nhân bản đích thực về gia đình” (THGĐ, 7), bạn nhé.

Bs. NGUYỄN ĐĂNG PHẤN


(Ephata số 607)

Đức Phanxicô, Giáo Hoàng của “Humanae Vitae"

Bài của Sandro Magister


Đó là tông thư ngài chọn làm mẫu mực, bất kể đó là tông thư bị chỉ trích nhiều nhất trong thế kỷ trước. Đức Bergoglio đang tạo ra kỳ vọng có thay đổi trong lãnh vực hôn nhân. Nhưng cũng như đức Phaolô đệ Lục, vào lúc chung cuộc, ngài có thể quyết định “ngược lại với số đông.”

ROME, ngày mồng Một tháng Năm năm 2014 – Bốn vị giáo hoàng cùng một lúc trước con mắt toàn thế giới đã làm nên một cảnh duy nhất. Đó là điều đã xảy ra hôm Chúa Nhật ngày 27 tháng Tư. Hai vị trên thiên đàng, Angelo Giuseppe Roncalli, người Ý và Karol Wojtyla, người Balan. Và hai vị đang tại thế, Jopseph Ratzinger, người Đức, và Jorge Mario Bergoglio, người Achentina. Rất gần nhau, mà cũng rất khác nhau. Vị mục tử, người chiến binh, nhà thần học… Còn vị cuối cùng ? Một bí ẩn. Hơn một năm sau khi được bầu lên, ngài còn cần được người ta giải mã hoàn toàn.

Chắc chắn Giáo hoàng Phanxicô nói một ngôn ngữ mới. Trong các bài giảng ban sáng tại Santa Marta, trong các cuộc phỏng vấn, khi ngài ngỏ lời với đám đông, ngài dùng ngôn ngữ được đơn giản hoá hết sức. Nơi ngài điều được nói ra có ưu thế hơn những gì được viết xuống, dù với cái giá phải trả là bị hiểu lầm. Ngài lấy làm đủ, nếu mọi người hiểu được rằng lương tâm có một sự độc lập bất khả xâm phạm, rằng Giáo Hội không muốn can thiệp vào đời sống thiêng liêng của mỗi người hay Giáo hội không muốn kết án người đồng tính, và rằng việc cải đạo là “chuyện điên khùng.”

Nhiều người Công giáo sống đạo cảm thấy khó chịu về những phát biểu đốp chát thẳng thừng đó của ngài. Nhưng chính nhờ chúng mà sự thành công của ngài ở bên ngoài được bảo đảm. “Extra Eccesiam – Ngoài Giáo hội” đức Phanxicô (*) là một giáo hoàng được lòng công chúng nhất trong lịch sử .

Vậy mà đức Bergoglio chỉ biết mềm dẻo với điều ngài gọi là “lề lối suy nghĩ duy nhất” đang thống trị. có tính cách vô thần và “phóng khoáng,” thứ “thuốc phiện mới của dân chúng.” Cái nhìn của ngài về thế giới là một cái nhìn khải huyền, là một cuộc chiến hoàn vũ chống lại ma quỷ là kẻ thù lớn nhất. Ngài thường xuyên nhắc đến nó, đặc biệt trong cái bài giảng lễ sáng. Ngài không im lặng về nỗ lực ngài chống đối lại sự xuất hiện của những hình thức mới tự cho là gia đình mà không có “nam tính và nữ tính của một người bố và một người mẹ.” Ngài không suy suyển trong việc gọi phá thai là một “tội ác ghê tởm.”

Nhưng ngài lại rất cẩn thận chẳng bao giờ liên kết những tố cáo của mình với luật lệ, với các đạo luật của chính quyền, những phán quyết toà án, các biến cố đang diễn tiến, các chiến dịch vận động ý kiến đang xảy ra hằng ngày nhằm thúc đẩy cái “lề lối suy nghĩ duy nhất” mà ngài rất ghét. Chỉ cần phát biểu nhẹ nhàng về mọi việc, miễn là phát biểu cách trừu tượng, là ngài lấy làm đủ.

Tuy nhiên, đức Phanxicô rất cụ thể, trong các phạm trù khác của thực tại, những phạm trù không tạo ra tranh luận, mà chỉ có thoả hiệp.

Ngài đến đảo Lampedusa, nơi các di dân, người tị nạn, và những kẻ bị lưu đày từ khắp Phi Châu cập bờ, để ngài thốt lên: “Thật đáng xấu hổ!” Rồi ngài mau chóng đến Cassano all’lonio, để lên án mấy tay mafia lặp căn cứ địa ở đó. Rồi đến Campobasso, vị giám mục sở tại là Giancarlo Maria Bregantini, người ngài nhờ viết bài Suy Niệm Chặng Đường Thánh Giá ngày thứ Sáu Tuần Thánh tại Colosseum, đầy tình thương cảm dành cho người nghèo khó, kẻ bị lưu lạc, thất nghiệp. Ngài gọi điện thoại cho Marco Pannella, vị lãnh đạo chính trị chống giáo hội, để bày tỏ sự ủng hộ của mình dành cho chiến dịch đòi hỏi đối xử đúng đắn với các tù nhân.

Nhưng nơi đức Phanxicô bày tỏ phong cách mình ra rõ nhất là tại đền thờ thánh Phêrô hôm 27 tháng Ba, trong thánh lễ ngài cử hành trước hơn 500 giáo sĩ, dân biểu và thượng nghị sĩ. Không một nụ cười, không một lời chào. Và một bài giảng đầy những khiển trách, trong đó từ khoá là “corruption-thối nát.” Một từ trong tự điển của đức Bergoglio nói lên lòng chai dạ đá của tội nhân chìm trong tội, bất cứ là tội gì, ngăn cản đương sự không chấp nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa. Nhưng từ này được hầu hết mọi người, kể cả các nhà chính trị đang có mặt, hiểu theo nghĩa hiện đại là một tội ác mang cùng tên (**).

Trong ý kiến công chúng, không chỉ tại Ý mà ở khắp nơi, thường xung khắc với các nhà chính trị, chính sự táo bạo này của đức Phanxicô gia tăng lòng ngưỡng mộ của công chúng. Những mục tiêu ngài nhắm tới để phóng phi tiêu, cũng chính là những mục tiêu rất nhiều người, ít là trong lời nói, đã sỉ vả. Không thể tưởng tượng ra được rằng ai lại có thể chỉ trích đức giáo hoàng khi ngài lên án mafia hay chiến tranh.

Câu “tôi là ai mà kết án” đã trở thành chìa khoá để miêu tả về triều giáo hoàng này, chắc chắn sẽ áp dụng, như ngài đã nói, vào kẻ đồng tính nhưng có thiện tâm tìm kiếm Thiên Chúa. Nhưng đối với nhiều việc khác, người khác, đức Phanxicô đã kết án và còn kết án nặng lời, đứng về phe, hay chống lại và còn nêu rõ danh tính người ấy.

Ngài đã không giữ miệng lưỡi khi nói chống lại Nunzio Scarano, một đức ông của giáo triều đã bị bắt vì tội kinh tế, nhưng đang chờ phản quyết của toà. Ngài đã buông ra câu nhức nhối sau đây: “Vị ấy chẳng giống thánh Imelda.” (***)

Ngài cũng chẳng giữ im lặng khi đến chuyện phải ủng hộ nhu cầu của công nhân, như ngài đã từng làm hôm thứ Tư sau Phục Sinh, khi ngài đến để bảo vệ bốn ngàn công nhân xưởng thép ở Piombino đang gặp nguy cơ đóng cửa.

Chính với khả năng lèo lái bậc thầy của dòng Tên thế hệ cũ, mà đức Phanxicô chọn lựa và xếp đặt giờ giấc, địa điểm và các trích dẫn cho các nhận định của mình. Các hoạt động của ngài cũng theo cùng một cách. Mọi chuyện đều có thể tìm thấy trong cái khả năng đó, kể cả những điều đối nghịch nhau nhất, chẳng hạn như tại viện IOR, nơi việc tái phục hồi các trương mục được trao cho nhóm nhân viên làm việc tất bật nhưng cao giá của công ty đa quốc gia Promontory, lại đi kèm với việc giữ lại nhóm lãnh đạo của ban quản trị cũ làm việc mù mờ làm thành uỷ ban giám sát. Nhưng khả năng của đức Phanxicô chính là việc điều chỉnh các âm thanh đặt bên nhau để thành một thứ âm nhạc làm mê lòng, luôn luôn được giữ ở tình trạng bấp bênh, chờ đợi một kết thúc cứ chần chừ không đến.

Cuộc phiêu lưu của thượng hội đồng giám mục sắp tới, được triệu tập để bàn về chủ đề gia đình, hoàn toàn tương hợp với lối xếp đặt này.

Về vấn đề đã trở thành đề mục chính của cuộc tranh luận: viêc chịu lễ của người ly dị và tái hôn, đức Phanxicô thay đổi liên tục từ mềm dẻo sang cứng rắn. Khi vài giám mục Đức hàng đầu đưa ra những tín hiệu phá rào cản nhằm thuận lợi cho việc được chịu lễ, đức giáo hoàng lại sai một giám mục Đức khác, Gerhard Ludwig Müller, bộ trưởng bộ giáo lý đức tin, đưa ra một mệnh lệnh nghiêm khắc trên tờ “L’Osservatore Romano” buộc ngưng lại.

Nhưng rồi ngài lại đưa ra một vị người Đức khác, hồng y và thần học gia Walter Kasper, người đã tranh đấu suốt ba mươi năm để mong tháo gỡ luật cấm rước lễ, làm diễn giả duy nhất trong hội nghị, được triệu tập để bàn về vấn đề ấy. Và đức giáo hoàng đứng về phe vị này, nồng nhiệt khen ngợi Kasper, cả sau khi các hồng y khác lên tiếng chống lại Kasper.

Đức Bergoglio còn áp dụng thái độ đứng về cả hai phe cho chính mình.

Ngài thích nhắc đi nhắc lại lòng trung thành của mình vào giáo lý ngàn năm, trong trường hợp này là tính bất khả phân ly của hôn nhân: “Ai cũng biết quan điểm này của Giáo hội, và tôi là một người con của Giáo hội.”

Nhưng rồi dường như ngài lại tách mình ra khỏi lập trường này, khi ngài hành xử như một thầy thuốc chữa tâm hồn từng cá nhân, trong cái “bệnh viện dã chiến” tả tơi này, đối với ngài, là thế giới, đầy những thương binh cần gấp rút cứu chữa. Như khi ngài gọi điện thoại cho một phụ nữ ở Achentina, sau khi ly dị đã tái hôn bên dân sự, đã bị quẫn trí vì bị cấm không được lãnh nhận Thánh Thể, để bảo bà cứ chịu lễ “đừng e ngại chi” và “đi sang giáo xứ khác mà chịu” nếu cha xứ của bà không trao Mình Thánh cho bà.

Phát ngôn viên của Vatican, cha Federico Lombardi, đã phải minh định: Từ cuộc nói chuyện qua điện thoại, “không nên rút ra những kết luận liên quan đến giáo huấn của Giáo hội.” Nhưng việc này không thể làm giảm bớt sức chấn động của chuyện ấy trên công luận. Ảnh hưởng toàn diện nơi chiến thuật của đức Phanxicô là tạo ra một thúc đẩy thay đổi càng ngày càng gia tăng. Thúc đẩy này sẽ càng mạnh hơn vào lúc thượng hội đồng nhóm họp vào tháng Mười, với công tác gom góp thêm các đề nghị bổ túc. Các đề nghị này sẽ được nghiên cứu một năm sau đó, trong kỳ họp thứ hai của thượng hội đồng. Kỳ họp này sẽ tổng kết các đề nghị và đưa ra các ý kiến để đức giáo hoàng có giải pháp. Bởi vì là đức Phanxicô, và chỉ mình ngài, là người có tiếng nói cuối cùng, và là người quyết định chấp thuận cho người ly dị và tái hôn được rước lễ hay không, khi nào và cách nào.

Vậy quyết định sẽ có vào cuối năm 2015 hay vào đầu năm sau đó, chứ không sớm hơn. Dưới áp lực nặng nề của công luận, có lẽ vào lúc đó, dường như sẽ nhất trí chỉ là một lời yêu cầu cho phép.

Trước kia, vào thập niên 1960, cũng có một áp lực mạnh mẽ tương tự yêu cầu thay đổi, khi đức giáo hoàng phải quyết định về tính hợp pháp của việc dùng thuốc ngừa thai, với nhiều thần học gia, giám mục và hồng y đứng về phe ủng hộ. Nhưng vào năm 1968, đức Phaolô đệ Lục đã quyết định ngược lại, với tông thư “Humanae Vitae.” Một tông thư đã gặp phải những chống đối cay đắng từ toàn bộ giám mục đoàn và bất tuân phục của vô số giáo dân. Nhưng ngày nay đức Phanxicô đã cho biết ngài muốn coi thông điệp đó làm cái khung tiêu chuẩn cho mình – trong điểm này, ngài đã gây ra bất ngờ như mọi lần khác.

Thực vậy, chúng ta cũng nên đọc lại cẩn thận những gì đức Phanxicô đã nói về tông thư này, trong cuộc phỏng vấn hôm mồng 5 tháng Ba với tờ “Corriere della Sera”:

“Tất cả tuỳ thuộc vào cách người ta cắt nghĩa “Humanae Vitae.” Đến phút cuối, chính đức Phaolô đệ Lục thúc dục các cha giải tội phải rất khoan dung và để tâm đến các trường hợp cụ thể. Nhưng thiên tài của ngài mang tính tiên tri. Ngài can đảm có thái độ chống lại đa số, để bảo vệ kỷ luật luân lý, để thi hành vai trò một ngăn chặn trong văn hoá, chống lại thuyết Malthius cả tân thời lẫn tương lai. Vấn đề không phải là thay đổi giáo lý, mà là đào sâu và bảo đảm sao cho việc chăm lo mục vụ lưu ý đến từng trường hợp cá nhân và những điều cá nhân ấy có thể làm.”

Bí ẩn Phanxicô hoàn toàn nằm trong lời ca tụng tuyệt vời dành cho “Humanae Vitae.” Vì từ “vị giáo hoàng đến từ miền tận cùng thế giới” này, người ta thật sự có thể mong chờ bất cứ chuyện gì, cả chuyện rước lễ của người ly dị và tái hôn, ngài có thể có quyết định chung cuộc “ngược lại với đa số”: một quyết định tái xác nhận sự nguyên vẹn của giáo lý về hôn nhân bất khả phân ly, mặc dù được châm chước do lòng khoan dung của các mục tử chăm sóc linh hồn, khi họ phải đối diện với những hoàn cảnh cụ thể.

Khi đức Bergoglio tuyên bố đức Gioan Phaolô đệ Nhị là thánh hôm 27 tháng Tư, ngài biết rất rõ điều đức giáo hoàng Biển Đức về hưu đã phát biểu về vị tiền nhiệm cao cả của mình vài tuần trước đó:

“Đức Gioan Phaolô đệ Nhị không mong được ca tụng, ngài cũng chẳng tìm ngang ngó dọc xem coi người ta chấp nhận quyết định của mình như thế nào. Ngài hành động dựa trên căn bản đức tin của mình và những gì mình xác tín, và ngài cũng sẵn sàng để chiụ đựng tấn công. Lòng can đảm vì sự thật là một trong những tiêu chuẩn chính của thánh thiện.”

Vốn là chuyên gia trong việc kiến tạo dư luận của công chúng, giáo hoàng Phanxicô không phải là loại người để cho mình trở thành nạn nhân của công luận.
___________

Bài phê bình này đã được công bố trên tờ “L’Espresso” số 18 năm 2014, trên kệ báo ngày mồng Một tháng Năm.
__________

Tông thư Humane Vitae gây nhiều tranh cãi của đức Phalô đệ Lục công bố ngày 25 tháng Bẩy năm 1968, mà đức Phanxicô chọn làm mẫu mực cho mình:

http://www.vatican.va/holy_father/paul_vi/encyclicals/documents/hf_p-vi_enc_25071968_humanae-vitae_en.html

Bản dịch tông thư:



Nguồn bản dịch bài báo: ducmesaobien.net

Các linh mục Việt Nam kêu gọi hủy bỏ án tử hình

Bản án tử hình đối với phạm nhân đã từ lâu không diễn tả sự công tâm của pháp luật, mà mang nặng tính trả thù. Đặc biệt Giáo lý Công giáo, từ lâu, đã lên án hình thức kết án phi nhân này. Nhân dịp Việt Nam phải ra điều trần trước Hội đồng nhân quyền LHQ (UPR), mỗi 4 năm một lần, Nhóm linh mục Nguyễn Kim Điền và các linh mục Công giáo khác đã đồng ký tên kêu gọi Quốc hội hủy bỏ án tử hình.



—–

Kính gởi

- Quý Cơ quan hữu trách Việt Nam.

Đồng kính gởi

- Quý Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

- Quý Anh Chị Em Tín hữu Công giáo.

- Quý Cơ quan Nhân quyền Quốc tế


1- Nhận định

- Kể từ sau năm 1975, Việt Nam là một trong số những quốc gia thi hành án tử hình nhiều nhất thế giới, vừa đối với các tù nhân hình sự, vừa đối với các tù binh chiến tranh (thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Hòa), vừa đối với các tù nhân lương tâm. Có rất nhiều chứng từ lẫn tài liệu về vấn đề này. Và không thiếu những trường hợp chết oan vô tội. Gần đây lại có một loạt án tử hình được tuyên liên quan đến tham nhũng, cướp của, buôn ma túy, gây xôn xao cho toàn xã hội.

- Việt Nam đang theo chế độ duy vật vô thần, độc tài toàn trị, không tam quyền phân lập, hệ thống tư pháp bị đảng Cộng sản kiểm soát hoàn toàn, lại có nạn công an điều tra lập thành tích, công tố viện và thẩm phán nhận đút lót, nên thường xuyên có những vụ xét xử bất công, dễ dẫn đến những sai lầm công lý trầm trọng và có thể đưa đến những bản án tử hình đi ngược các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế.

- Với Nghị định số 208/2013/NĐ-CP của Chính phủ ký ngày 17-12-2013, có hiệu lực từ 1-2-2014, cho phép bắn vào kẻ bị cho là “có hành vi chống người thi hành công vụ”, nhằm ngăn ngừa những cuộc nổi dậy ngày càng tăng của nhân dân, và trước hiện trạng nhiều công dân vô tội bị chết sau khi sa vào tay công an, công luận e rằng rồi đây sẽ có những bản án tử hình được thực thi tại chỗ, mà tính chất chính đáng sẽ là mối băn khoăn nhức nhối cho lương tâm của toàn xã hội.

- Việc thi hành án tử hình tại VN còn nhiều thể thức vô nhân đạo. Như việc các tử tù bị giữ lâu năm lâu tháng trong cảnh biệt giam, cùm kẹp và đọa đày nghiệt ngã… khiến cho họ (và gia đình họ) sống trong khắc khoải khôn cùng, dễ dẫn đến tự hủy hoại; như việc thi hành án tử bằng những phương cách gây đau đớn kéo dài cho các phạm nhân; như việc mới đây, một nhóm bác sĩ được mời đến để chữa bệnh nhưng tới nơi thì bị cưỡng bức tiêm thuốc độc để giúp nhà tù thi hành án tử. Như thế là trực tiếp phá vỡ những cam kết chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của bác sĩ.

- Nhân loại hiện nay có Ngày Thế giới chống án tử hình (được thiết lập từ 10-10-2003). Liên Hiệp Quốc, nhiều tổ chức nhân quyền, nhân đạo và tôn giáo đã kêu gọi các quốc gia mau chóng loại bỏ thứ án ấy, vì đó là một sự vi phạm quyền sống, thiếu nhân đạo và hạ nhân phẩm, như được nêu ra trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (đ. 3 và 5) và Công uốc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (đ. 6 và 7). Ngoài ra, số lượng các nước bãi bỏ án tử hình không ngừng gia tăng. Nay đã có 138 quốc gia chẳng còn áp dụng án tử hình, trong đó 94 quốc gia đã ban hành luật bãi bỏ nó hẳn, số còn lại bỏ nó trong thực tế, nghĩa là vẫn duy trì, nhưng không thi hành án. (RFI 24-02-2010, Tóm lược Học thuyết Xã hội của GHCG số 405)

2- Tuyên bố

Từ những nhận định trên, là những linh mục Công giáo có nghĩa vụ rao truyền giáo huấn của Giáo hội, có trách nhiệm xây dựng nền văn minh sự sống theo lời dạy của Cố Giáo hoàng Gioan-Phaolô 2, và từ lâu đấu tranh cho nhân quyền lẫn dân quyền theo tinh thần của Cố Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền, chúng tôi cực lực phản đối việc áp dụng hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự, vì những lý do như sau:


a- Quyền sống của con người (từ lúc tượng hình trong bào thai đến lúc chết tự nhiên) là quyền tối thượng và cơ bản mà chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền định đoạt và kết thúc.

b- Công lý, luật pháp và tòa án là nhằm giữ gìn trật tự xã hội và bảo vệ công dân vô tội, nhưng cũng nhằm giáo dục các công dân phạm tội, giúp họ hối lỗi và đền bù (sửa chữa), chứ không nhằm báo oán lên họ và gia đình họ.

c- Án tử hình do đó thể hiện sự thất bại của luật pháp, vì mạng người mất đi thì không thể sửa chữa được. Ngoài ra, án phạt này chẳng có tác dụng gì trong việc đấu tranh chống tội phạm (tại những quốc gia áp dụng nó không hề thấy suy giảm các tội phạm nghiêm trọng, trái lại là suy giảm ý thức tôn trọng nhân mạng và nhân phẩm trong xã hội; đang khi chẳng có một hệ thống tư pháp nào mà không sai lầm trong xét xử (nhiều tử tội đã phải chết oan).

d- Xã hội hiện nay đang có những phương thế trấn áp tội phạm cách hiệu quả, bẳng cách làm cho các can phạm trở nên vô hại mà không dứt khoát từ chối cơ may để họ cải tạo. (ĐGH Gioan-Phaolô 2, Thông điệp Tin mừng Sự sống số 27).

e- Những biện pháp răn đe và trừng phạt không đổ máu phù hợp hơn với những điều kiện cụ thể của công ích và phẩm giá con người. (Giáo lý GHCG số 2267)

f- Chúng tôi yêu cầu các cơ quan hữu trách Việt Nam sớm xem xét sửa đổi Bộ luật Hình sự để hủy bỏ hình phạt “tử hình” và ngưng ngay việc thi hành mọi án tử đã tuyên.

Làm tại Việt Nam ngày 05-02-2014, ngày Kiểm điểm Định kỳ Toàn cầu về Nhân quyền

Ký tên:

Đại diện Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền:

- Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tổng giáo phận Huế

- Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Tổng giáo phận Huế

- Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh

Đồng ký tên:

- Lm Antôn Lê Ngọc Thanh, Dòng Chúa Cứu Thế SG

- Lm Giuse Đinh Hữu Thoại, Dòng Chúa Cứu Thế SG

Theo VRNs

Bí tích Thánh Thể và việc bảo vệ Tin Mừng Sự Sống



Bài Thuyết Trình của Đức Cố Hồng Y Alfonso López-Trujillo


Nguyên Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình

Trình bày tại Đại Hội Tông Đồ Tận Hiến Gia Đình, Ngày 19 tháng 7, năm 1998


Các bạn thân mến,

Một lần nữa, tôi xin nhân dịp này cám ơn Hội Tông Đồ Tận Hiến Gia Đình, và đặc biệt là ông bà Jerry và Gwen Coniker, đã tổ chức Đại Hội này và đã mời tôi tham dự.

Chúng ta đã suy nghĩ về đặc quyền và nhiệm vụ của gia đình trong công tác truyền thụ Tin Mừng qua việc dạy Giáo Lý và cầu nguyện trong gia đình. Công tác đa dạng của các bạn cũng nhấn mạnh đến việc gia đình được mời gọi để truyền giáo trong xã hội thế nào. Các bạn cũng đặc biệt nhấn mạnh đến các Giờ Thánh Đừng Sợ, về vai trò của Bí Tích Thánh Thể trong việc kết hợp và củng cố gia đình như một cộng đoàn truyền giáo, và vai trò của gia đình trong việc tôn trọng sự sống trong xã hội ra sao. Các bạn tìm cách đem niềm hy vọng đến cho gia đình khi gặp khó khăn trong ơn gọi truyền thụ Tin Mừng. Vậy chúng ta hãy bỏ một chút thì giờ suy nghĩ về những đề tài trên.


Gia Đình và Việc Bảo Vệ Sự Sống

Nhân loại ngày nay có vẻ dã man và bất nhân hơn bao giờ hết, bất kể những tiến bộ về kỹ thuật và khoa học.

Như các bạn đã biết, hiện nay mỗi năm có trên 50 triệu trẻ em vô tội bị thanh trừng bởi tội ác phá thai. Điều này chẳng khác gì mỗi năm toàn thể dân chúng nước Ý Đại Lợi bị tiêu diệt trong cuộc chiến tàn bạo và tồi tệ nhất.

Đó là cuộc chiến chống lại những người cô thế và vô tội, là những người cũng có quyền sống, là quyền căn bản mà không ai có thể từ chối được.

Năm nay chúng ta mừng kỷ niệm 50 năm công bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Từ giây phút thụ thai, “người được thụ thai” là một hình ảnh của Thiên Chúa và được mời gọi để thành con cái Thiên Chúa qua Bí Tích Thánh Tẩy.

Đức Thánh Cha [Gioan Phaolô II] đã dạy rằng có hai Tin Mừng không thể tách rời nhau được: Tin Mừng cho gia đình, là Tin Mừng cho mọi người, vợ chồng, con cái và xã hội! Và cũng có Tin Mừng Sự Sống: Sự sống con người là hồng ân của Thiên Chúa và chỉ thuộc quyền Thiên Chúa. Sự sống con người thiêng liêng. Con người không phải là một sự vật, không phải một dụng cụ mà một người có thể sử dụng, thao túng và vất đi. Không ai có quyền muốn làm gì thì làm với đời sống của một con người vô tội. Thông Điệp Evangelium Vitae của ĐTC Gioan Phaolô II là một thông điệp vĩ đại và lịch sử trong việc bảo vệ sự sống con người.

Hội Thánh bênh vực sự sống con người với tình yêu và lòng can đảm, cùng công bố hồng ân tuyệt vời này là hồng ân mà gia đình cũng phải công bố, rao truyền và bảo vệ. Thưa các phụ huynh, không có của cải nào quý giá hơn là con cái quý vị! Hội Thánh bênh vực sự sống của mọi người, đặc biệt là những người nghèo khổ nhất, yếu đuối nhất và thiếu thốn nhất, các trẻ em chưa được sinh ra, các bệnh nhân, và sự sống của các bậc lão thành. Thời nay người ta bị cám dỗ khai trừ tất cả những người này vì coi họ là gánh nặng cho xã hội và cho chính gia đình.

Hội Thánh nhắc nhở chúng ta rằng là con người, họ đã được Đức Kitô cứu chuộc và Người cũng đã hiến mạng sống Người cho họ. Người đã yêu tôi và đã hiến mạng sống Người cho tôi! Người cũng làm thế cho các bệnh nhân, cho những người bị khinh rẻ. Điều gì là điều then chốt và là lý do của giá trị cao cả của con người? Điều then chốt là người ấy là một người được Thiên Chúa yêu thương… quá mức đến nỗi mà Chúa Giêsu phải cứu chuộc người ấy trên Thập Giá.

Không ai, không một quyền lực nào, không một quyền bính nhân loại nào, một quốc hội nào, một chính phủ nào, có thể dành cho mình quyền thế và quyền đối xử với một con người như sự vật và quyết định rằng người ấy không có quyền sống.

Thật là một gương mù không những chi cho các tín hữu mà còn cho tất cả mọi người khi nghe về những tội ác phạm đến những người nghèo đói và thiếu thốn nhất.


Một Cuộc Vận Động Vĩ Đại Vì Sự Sống

Việc bảo vệ sự sống, nền văn hóa sự sống, tìm được sự hỗ trợ lớn lao nhất từ các gia đình. Thể chế gia đình có một sứ vụ là bảo vệ sự sống, giáo dục nó và đưa nó đến sung mãn.

Các bạn đã biết rõ lời mời gọi mà Hội Thánh đưa ra cho chúng ta qua Thông Điệp Evangelium Vitae, là tham gia vào “một cuộc vận động vĩ đại vì sự sống.” Thông Điệp này đặc biệt mời gọi các gia đình trở thành phương tiện mà qua đó Nền Văn Hóa Sự Sống được phục hồi. Quả thật, Đức Thánh Cha đã vạch ra rằng một trong những ly do mà phá thai và giết chết êm dịu là những tội ác tầy trời khủng khiếp vì chúng xảy ra trong gia đình, là nơi che chở sự sống. Vì thế Ngài tiếp tục quả quyết rằng, “Trong số ‘những người vì sự sống và cho sự sống’, gia đình có một nhiệm vụ tiên quyết. Nhiệm vụ này phát sinh từ chính bản chất của gia đình là một cộng đồng sự sống và tình yêu… Như một Hội Thánh Tại Gia, gia đình được triệu tập để công bố, cử hành và phục vụ Tin Mừng Sự Sống” (EV, số 92).


Bí Tích Thánh Thể và việc Bảo Vệ Sự Sống

Bí Tích Thánh Thể dạy các gia đình và thúc đẩy họ bảo vệ sự sống. Chúng ta hãy nhìn đến một vài điểm trong lãnh vực này.

Bằng một cách đặc biệt, các bạn đang có mặt ở Đại Hội này biết rằng các gia đình được thêm sức mạnh trong ơn gọi này qua việc cùng nhau tôn sùng Thánh Thể. Việc tôn kính như thế kéo các phần tử lại gần nhau hơn trong mối giây bác ái là điều thiết yếu của những gia đình vững mạnh. Việc làm giờ thánh gia đình, được hội Tông Đồ này cổ võ, ghép gia đình vào sứ vụ hằng ngày của Hội Thánh để thăng tiến Tin Mừng Sự Sống.

Hội Thánh không thể tồn tại được nếu không có Bí Tích Thánh Thể. Gia đình Kitô hữu cũng thế. Sức bổ dưỡng của gia đình đến từ Mình và Máu Thánh Chúa. Sứ vụ làm Hội Thánh Tại Gia của gia đình cũng được tìm thấy trong Bí Tích Thánh Thể và dẫn nó trở lại cùng Bí Tích Thánh Thể, là nguồn mạch và tột đỉnh của tất cả đời sống và hoạt động của Hội Thánh.

Quyết tâm thăng tiến nền Văn Hóa Sự Sống của gia đình lãnh nhận hình thái và sức bổ dưỡng của nó từ Bí Tích Thánh Thể như là một Bí Tích của Đức Tin, của sự hiệp nhất, của đời sống, của việc phụng tự và của tình yêu.

Bí Tích Thánh Thể là một Bí Tích của Đức Tin. Chúng ta không thấy gì khác nơi Bánh Thánh trước khi và sau khi Truyền Phép. Bánh Thánh có cùng một hình dáng, mùi, vị, và cảm giác như một tấm bánh. Chỉ có một trong năm ngũ quan nhận ra sự thật. Như Thánh Thôma diễn tả trong ‘Adoro Te Devote’ rằng, “Người ta đều bị đánh lừa vì nhìn, đụng chạm, và nếm Người. Nghe và tin vào lời nói thì mới tin Người?” Tai nghe Lời Người, “Đây là Mình Thầy; đây là Máu Thầy,” và Đức Tin dẫn đưa chúng ta vào phía sau bức màn che của sự vẻ bề ngoài.

Các Kitô hữu thường có cái nhìn vượt qua những vẻ bề ngoài. Em bé nằm trong máng cỏ không nhìn giống Thiên Chúa chút nào; hay con người bị treo trên Thập Giá cũng chẳng sao. Nhưng nhờ Đức Tin mà chúng ta biết con người ấy không phải chỉ là người. Sách Thánh Kinh không có hào quang tỏa ra giữa những sách khác, nhưng nhờ Đức Tin chúng ta biết rằng sách ấy là Lời đặc biệt của Thiên Chúa. Thánh Thể có vẻ như chỉ là bánh và rượu, nhưng nhờ Đức Tin chúng ta thưa “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con!” khi chúng ta quỳ gối thờ lạy.

Cũng một động lực của Đức Tin giúp chúng ta thấy vượt qua vẻ bề ngoài của những mầu nhiệm này, cũng làm cho chúng ta thấy vượt qua vẻ bề ngoài của những người lân cận của mình. Chúng ta có thể nhìn đến những người chung quanh chúng ta, đến những người làm chúng ta khó chịu, hay những người xấu xí, hoặc những người nằm bất tỉnh trên giường bệnh, và có thể nói rằng, “Đức Kitô cũng ở đấy. Đó là anh em tôi, chị em tôi, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa!” Bằng cùng một động lực chúng ta cũng có thể nhìn vào một em bé trước khi được sinh ra và nói, “Đây cũng là anh em tôi, chị em tôi, có nhân phẩm ngang hàng như mọi người và đáng được bảo vệ như những người khác!” Có một số người sẽ nói rằng đứa trẻ trong bụng, đặc biệt là trong những giai đoạn đầu tiên, quá nhỏ để được bảo vệ bởi Hiến Pháp. Có phải Bánh Thánh quá nhỏ để có thể là Thiên Chúa, và vẻ bề ngoài quá khác Thiên Chúa để chúng ta thờ kính không? Một mảnh vụn nhỏ nhất của Bánh Thánh cũng hoàn toàn là một Đức Kitô. Đức Tin Thánh Thể là một thuốc giải độc mạnh cho quan niệm nguy hiểm là giá trị tùy thuộc vào kích thước, hoặc sưc mạnh, hay bất cứ đặc tính nào khác. Là gì chứ không phải có gì, mới là nguồn gốc của phẩm giá.

Hãy tưởng tượng tất cả mọi người khắp nơi trên thế giới là những người đang rước Lễ hôm nay. Có phải mỗi người đang đón nhận một cái gì khác nhau không? Chẳng phải mỗi người đang đón nhận một và chỉ Đức Kitô duy nhất? Qua Bí Tích này, Đức Kitô là Chúa, Đấng ngự trị vinh hiển trên Thiên Đàng đang kéo tất cả mọi người lên với Chính Người. Chính Người là Đấng lôi kéo chúng ta lên với Người, rồi Người kéo chúng ta lại với nhau. Thánh Phaolô giải thích về điều này, “Chúng ta, tuy nhiều người, nhưng chỉ là một thân thể, vì chúng ta cùng chia sẻ một tấm bánh” (1 Cor 10:17). Khi chúng ta gọi nhau là “anh chị em,” chúng ta không chỉ dùng ẩn dụ để phản ảnh một cách mờ ảo sự liên kết giữa con cái cùng một cha mẹ. Sự hợp nhất chúng ta có trong Đức Kitô còn mạnh mẽ hơn sự hợp nhất giữa anh chị em ruột thịt, bởi vì chúng ta có cùng chung một máu: Máu Thánh của Đức Kitô! Kết quả của Thánh Thể là chúng ta trở nên một, và đều này đòi buộc chúng ta phải lo lắng cho nhau như chúng ta lo lắng cho bản thân mình.

Đây là sự hợp nhất của gia đình: chúng ta đã khám phá ra chúng ta là con cái Thiên Chúa. Chúng ta có thể kêu lên, “Abba,” có nghĩa là, “Cha ơi!” Chính Chúa Thánh Thần làm chứng cho tinh thần chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa (x. Rom 6:16). Tất cả đều là con cái.

Hãy tưởng tượng một người lên Rước Lễ, sau khi lãnh nhận Bánh Thánh, người ấy bẻ ra một mảnh trả lại cho vị linh mục. Điều này tượng trưng cho những gì xảy ra khi một người tẩy chay một người khác mà Đức Kitô đã cứu độ! Khi lãnh nhận Đức Kitô, chúng ta, dù thuận lợi hay không, dù muốn hay không, cũng lãnh nhận toàn thể Đức Kitô, trong tất cả các phần tử của Người, là anh chị em của chúng ta.

Như Thánh Gioan ghi nhận, Đức Kitô đã phải chết “để quy tụ con cái Thiên Chúa tản mác khắp nơi thành một.” Tội lỗi phân tán. Đức Kitô kết hợp. Chữ “diabolical (ma quỷ)” có nghĩa là “cắt ra từng mảnh.” Đức Kitô đến “để tiêu diệt công trình của ma quỷ” (1Ga 3:8). Bí Tích Thánh Thể xây dựng gia đình nhân loại trong Đức Kitô là Đấng mời gọi, “Hãy đến với Thầy, hãy nuôi các con bằng Máu Thầy, hãy trở thành Thân Thể Thầy.” Trong một động lực trái ngược, việc phá thai nói, “Cút đi! Chúng ta không có chỗ cho ngươi, chúng ta không có thì giờ cho ngươi, chúng ta không muốn ngươi, chúng ta không có trách nhiệm về ngươi. Hãy tránh đường cho chúng ta đi!” Việc phá thai tấn công sự hợp nhất của gia đình nhân loại bằng cách cắt ra từng mảnh mối liên hệ cơ bản nhất giữa hai người: người mẹ và đứa con. Bí Tích Thánh Thề, như là Bí Tích của Hợp Nhất, quay ngược động lực của phá thai lại.

Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích của Sự Sống. “Ta là Bánh Hằng Sống. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết” (x. Ga 6:47-58). Hy tế Thánh Thể là chính hành động của Đức Kitô mà nhờ đó Người tiêu diệt sự chết và phục hồi sự sống cho chúng ta. Mỗi khi chúng ta họp nhau lại để dự Hy lễ này chúng ta mừng việc sự sống chiến thắng sự chết, và như thế cũng chiến thắng phá thai. Phong trào phò sự sống không phải hoạt động cho chiến thắng mà hoạt động từ chiến thắng. Như Đức Thánh Cha đã nói ở Denver năm 1993, “Đừng sợ. Kết quả của cuộc chiến phò sự sống đã được định đoạt.” Công việc của chúng ta là áp dụng chiến thắng đã được thiết lập vào mọi phương diện của xã hội chúng ta. Cử hành Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh của công việc ấy.

Bí Tích Thánh Thể là hành vi Thờ Phượng Thiên Chúa Tối Cao. Mỗi người cần học hai bài học là, “1. Có Thiên Chúa. 2. Không phải tôi.” Bí Tích Thánh Thể là một Hy lễ hoàn hảo, nhìn nhận Thiên Chúa là Thiên Chúa, và nhìn nhận rằng “Ngài có quyền được mọi tạo vật vâng phục” (Sách Lễ, Ca Nhập Lễ Ngày Thứ 3 Trong Tuần). Ngược lại, việc phá thai công bố rằng sự chọn lựa của người mẹ là tối cao. “Tự do chọn lựa” được coi là đủ để biện minh cho ngay cả việc cắt một em bé ra từng mảnh. Chọn lựa bị tách ra khỏi chân lý là thờ ngẫu tượng. Nó trái ngược với việc thờ phượng chân chính. Nó cho rằng tạo vật là Thiên Chúa. Tự do chân chính chỉ được tìm thấy trong việc tùng phục chân lý và Thánh Ý Thiên Chúa. Tự do thật không phải là khả năng muốn làm gì thì làm, mà là khả năng có thể làm điều phải.

Cuối cùng, Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích Tình Yêu. Thánh Gioan giải thích, “Nhờ điều này mà chúng ta biết được tình yêu, là Chúa Giêsu Kitô đã thí mạng sống Người vì chúng ta” (1 Ga 3:16). Đức Kitô dạy, “Không có tình yêu nào lớn hơn là của người thí mạng sống mình cho bằng hữu” (Ga 15:13). Biểu tượng đúng nhất của tình yêu không phải là trái tim mà là Tượng Chịu Nạn.

Phá thai là điều hoàn toàn trái ngược với tình yêu. Tình yêu nói, “Tôi hy sinh chính mình vì lợi ích của người khác.” Phá thai nói, “Tôi hy sinh người khác vì ích lợi của tôi.” Trong Bí Tích Thánh Thể, chúng ta nhìn thấy ý nghĩa của tình yêu và lãnh nhận sức mạnh để sống tình yêu này. Hơn nữa, những kẻ cổ võ việc phá thai cũng dùng cùng một lời Chúa dùng để dạy chúng ta ý nghĩa của tình yêu: “Đây là mình tôi.” Bốn chữ bé nhỏ này được nói lên từ đầu kia của vũ trụ, với những kết quả hoàn toàn trái ngược. Đức Kitô thí mình Người để người khác được sống; những kẻ ủng hộ phá thai giữ chặt lấy thân xác mình để cho người khác phải chết. Đức Kitô phán, “Đây là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con; Đây là Máu Thầy sẽ đổ ra cho các con.” Đó là những lời của hy sinh; đó là những lời của tình yêu.

Năm 1994 tại Washington, Mẹ Têrêxa đã nói rằng chúng ta chống phá thai bằng cách dạy cho người mẹ tình yêu thực sự có nghĩa gì: “sẵn lòng cho đi đến lúc bị tổn thương… Như thế, người mẹ đang nghĩ về phá thai phải được giúp đỡ để yêu, nghĩa là biết cho đi đến khi chương trình hay thì giờ nhàn rỗi của người mẹ ấy bị tổn thương, để người mẹ ấy tôn trọng sự sống của con bà.”

Gustave Thibon đã nói rằng Thiên Chúa thật biến đổi sự bạo tàn thành đau khổ, trong khi đó Thiên Chúa giả biến đổi đau khổ thành bạo tàn. Người phụ nữ có ý phá thai sẽ biến đổi cái đau khổ của chị thành bạo tàn trừ khi chị ấy để cho tình yêu biến đổi chị, và làm cho chị bằng lòng hy sinh. Bí Tích Thánh Thể ban cho chúng ta cả bài học lẫn sức mạnh. Một người Mẹ phải nói, “Đây là mình mẹ, máu mẹ, sự sống mẹ, mẹ sẽ nộp cho con là con mẹ.” 



Thường thì phụ nữ là nạn nhân của lương tâm xấu của xã hội. 


Mọi người muốn chống phá thai cũng cần phải nói cùng những lời như trên. Chúng ta cần thực thi cùng một sự đại lượng mà chúng ta yêu cầu các người mẹ thực thi. Chúng ta phải bắt chước những mầu nhiệm mà chúng ta cử hành. “Hãy làm việc này để nhớ đến Thầy” có thể áp dụng cho tất cả chúng ta theo nghĩa là chúng ta cùng chịu đau khổ cách yêu thương với Đức Kitô để cho người khác được sống. Chúng ta phải giống như cột thu lôi giữa cơn giông tố kinh hoàng của bạo tàn và hủy diệt này, và thưa, “Lạy Chúa, con sẵn lòng lãnh nhận một phần nào sự bạo tàn này và nhờ tình yêu mà biến đổi nó thành sự đau khổ riêng của con, để người khác được sống.”

Thật vậy, Bí Tích Thánh Thể ban lệnh tiến quân cho phong trào phò sự sống. Bí Tích này cũng ban cho nó nguồn năng lượng, đó là tình yêu. Quả thế, nếu phong trào phò sự sống không phải là một phong trào của tình yêu, thì nó không còn là gì cả. Nhưng nếu nó là phong trào của tình yêu, thì không có gì có thể chặn đứng được nó, vì “Tình yêu mạnh hơn sự chết, và có quyền năng hơn cà hỏa ngục” (Nhã Ca 8:6).


Kết Luận

Kính thưa anh chị em, các gia đình lành mạnh là hy vọng của thế giới, vì thế chúng ta phải xây dựng các gia đình lành mạnh ấy với một ý nghĩa hy vọng cao cả. Nhìn thấy những sự dữ trên thế gian không thể làm cớ cho chúng ta bỏ trốn thế gian, nhưng ngược lại làm cho chúng ta tích cực tìm cách đối thoại với nó về ơn cứu độ.

Như là một sự hỗ trợ cho niềm hy vọng ấy, tôi xin phép kết luận bằng cách mời anh chị em chú ý đến Đại Hội Thế Giới của Đức Thánh Cha với các Gia Đình ở Rôma, mà Ủy Ban Giáo Hoàng về Gia Đình sẽ bảo trợ trong Mùa Thu của Năm Thánh 2000. Cuộc gặp gỡ này được đánh dấu bằng một Hội Nghị Thần Học Mục Vụ, bằng một cuộc cử hành Lời Chúa và chúc tụng vui mừng cùng với Đấng Kế Vị Thánh Phêrô, và bằng Một Phụng Vụ Thánh Thể do Đức Thánh Cha cử hành, là một giây phút của ân sủng trọng đại có thể giúp chúng ta đào sâu sự hiểu biết, quyết tâm, và hiệp nhất giữa những người cùng hoạt động vì sự sống và gia đình. Hai lần gặp gỡ trước cũng vậy, lần thứ nhất được tổ chức ở Rôma trong Năm Quốc Tế về Gia Đình (1994), và lần thứ nhì được tổ chức năm ngoái ở Rio de Janeiro. Tôi nhiệt tâm hy vọng rằng nhiều người trong anh chị em, hợp cùng nhiều người khác trong Nước Hoa Kỳ, sẽ có thể tham gia cuộc hành hương Đức Tin đến Rôma trong năm 2000, để hợp nhau cầu nguyện cùng với các gia đình khác từ khắp nơi trên thế giới.

Nguyện xin Chúa chúc lành dồi dào cho anh chị em, gia đình anh chị em, và công việc rất trọng yếu mà anh chi em đang làm cho Nước của Người.


www.dongthanhthe.net

"Về Trời và Đất" - ĐHY Bergoglio

Không như vị tiền nhiệm, tư tưởng và ý kiến của Đức Phanxicô ít được ai ở bên ngoài tổng giáo phận Buenos Aires biết đến, vì trước khi được bầu làm giáo hoàng, ngài viết rất ít và cũng chỉ xuất hiện trong một số cuộc phỏng vấn của giới truyền thông. Nên khi dịch bản tiếng Anh cuốn “Về Trời và Đất” xuất hiện gần đây, nó đã được nồng nhiệt chào đón. Đây là một cuộc đối thoại giữa Đức Hồng Y Bergoglio và giáo sĩ Do Thái Rabbi Abraham Skorka. Nhà xuất bản Image Books của Hoa Kỳ phát hành tác phẩm này với phụ đề “Đức Giáo Hoàng Phanxicô Nói Về Đức Tin, Gia Đình và Giáo Hội Trong Thế Kỷ Hai Mươi Mốt”. Như thế, trong tác phẩm này, người ta sẽ được biết tư tưởng của vị giáo hoàng tương lai về khá nhiều vấn đề, từ phá thai, hôn nhân đồng tính tới an tử và chủ nghĩa tư bản.


Đức HY Bergoglio khởi đầu bằng cách nhấn mạnh tới tầm quan trọng của đối thoại, điều mà theo ngài “phát sinh từ thái độ tôn trọng người khác, từ xác tín rằng người khác có điều gì đó tốt đẹp để nói ra”. Sau đó ngài và vị giáo sĩ Do Thái khởi sự một cuộc thảo luận lịch sự và thẳng thắn, mỗi người đưa ra tầm nhìn riêng.

Được chia thành 29 chương tùy theo chủ đề, nhưng chủ đề thuộc loại sớm liên quan tới Ma Qủy. Một nét được nhiều người lưu ý và ca ngợi Đức Phanxicô là ngài sẵn sàng nêu đích danh việc làm của ma qủy trong các bài giảng của ngài, và trong Về Trời Và Đất” ngài đưa ra lời giải thích.

Ngài nói: “Có lẽ thành tựu vĩ đại nhất của hắn trong thời đại ngày nay là làm chúng ta tin rằng hắn không hề hiện hữu, và mọi sự đều có thể được điều chỉnh trên bình diện hoàn toàn nhân bản”. Nhưng theo ngài, “Cuộc sống con người trên mặt đất là chiến trận; Gióp nói cho ta biết điều đó, với ý nghĩa: con người không ngừng bị thử thách; nghĩa là bị thử thách để vượt thắng một tình thế và vượt thắng chính mình”.

Về chủ đề ấu dâm, Đức HY Bergoglio rất thẳng thừng, hoàn toàn chống đối việc hoán chuyển các linh mục phạm tội từ giáo xứ này sang giáo xứ khác (ngài cho đó là việc ngu xuẩn) và ca ngợi sự “can đảm và thẳng thừng” của Đức Bênêđíctô XVI khi cho áp dụng chính sách tuyệt đối không dung túng đối với loại tội ác này.

Trong cuốn sách, Đức HY Bergoglio thường xuyên nhấn mạnh tới tầm quan trọng của ý chí tự do và chống đối mọi hình thức giáo sĩ trị và chủ nghĩa quá khích. Linh mục không bao giờ được áp đặt đức tin mà chỉ được trình bày và bảo vệ giáo huấn của Giáo Hội một cách minh bạch. Ngài bảo: “Linh mục nào có thái độ chỉ biết hống hách, giống các nhóm quá khích, thực sự đã vô hiệu hóa và làm suy yếu những người đang tìm kiếm Thiên Chúa”. Ngài nhấn mạnh “Trong vai trò thầy dạy, linh mục phải huấn giáo, trình bày sự thật như đã được mạc khải, và đồng hành”.

Không đi vào cụ thể, ngài nhắc tới “những phe phái duy phục chế” (restorationist) hiện đang tiếp tục nhân thừa mà ngài coi là cực đoan. Ngài cho rằng: đối với người trẻ, cái lòng đạo đức cứng ngắc này khi bảo họ phải làm điều này hay phải làm điều nọ, sẽ dẫn họ tới việc chuẩn bị nghèo nàn cho cuộc sống, thiếu khả năng đương đầu với khủng hoảng và các thiếu sót nơi người khác. Ngài cho rằng : kết quả nó sẽ ngăn không cho người ta nhận biết và thấu hiểu lòng thương xót của Thiên Chúa. “Cái thứ đạo đức này tự hóa trang bằng những tín lý nhằm đem lại công chính hóa nhưng thực tế tước đoạt tự do của người ta và không để họ trưởng thành như những con người. Nhiều người kết cục với lối sống hai mặt”.

Ngài tiếp tục cho rằng chủ nghĩa quá khích ấy là một thứ thuốc phiện vì nó làm con người xa lánh Thiên Chúa hằng sống và rút gọn Đấng Thần Linh chỉ “còn là một hữu thể mà bạn có thể thao túng bằng pha chế”. Nó là một hình thức của “mua bán tiện nghi, phúc lợi, may mắn và hạnh phúc, nhưng để Thiên Chúa hằng sống lại phía sau, Đấng luôn đồng hành với bạn”.

Về an tử, vị giáo hoàng tương lai nói: ngài tin rằng một thứ “an tử trá hình” đang diễn ra. “hệ thống an sinh xã hội của ta trả đến một mức chữa trị nào đó rồi bảo ‘xin Chúa giúp đỡ bạn’. Người già không được chăm sóc như họ đáng được; thay vào đó, bị đối xử như những thứ vất đi”.

Nói tới phá thai, Đức HY Bergoglio để tôn giáo qua một bên để nhấn mạnh rằng theo quan điểm khoa học, hệ di truyền của một con người hiện hữu ngay từ lúc được thụ thai; nó làm họ thành một con người nhân bản từ lúc đó. “Phá thai là sát hại một con người không thể tự bảo vệ mình được”.

Ngài tiếp tục thảo luận với giáo sĩ Skorka về vấn đề hôn nhân đồng tính, loại hôn nhân bị ngài mô tả là “phản giá trị” và “thoái hóa về nhân học”. Nó làm suy yếu định chế hôn nhân, một định chế từng hiện hữu hàng ngàn năm nay và được “rèn đúc theo bản nhiên và nhân học”.

Nhưng một lần nữa, Đức Hồng Y nhắc đến tầm quan trọng của ý chí tự do, bao gồm cả tự do phạm tội. Dù linh mục có quyền đưa ra ý kiến nếu điều này phục vụ con người, nhưng ngài “không có quyền áp đặt bất cứ điều gì lên đời sống riêng của bất cứ ai. Nếu khi tạo dựng, Thiên Chúa mạnh dạn cho ta được tự do, thì tôi là ai mà dám làm ngược lại?”. Đức Hồng Y cho rằng “người ta phải nói thật rõ ràng về các giá trị, các giới hạn, các giới răn, nhưng xách nhiễu về thiêng liêng và mục vụ là điều không được phép”.

Về lòng khiêm nhường, Đức HY Bergoglio cho rằng: nó là nhân đức “bảo đảm rằng Thiên Chúa đang ở đấy”. Còn những ai “tự lấy mình làm đủ, có câu trả lời cho mọi vấn nạn, thì đó là bắng chứng Thiên Chúa không hiện diện với họ”. Đức Hồng Y nói thêm: tự lấy mình làm đủ “rất hiển nhiên nơi mọi tiên tri giả, nơi các lãnh tụ tôn giáo giả dạng, chuyên lợi dụng tôn giáo để phục vụ cái tôi riêng của mình”.

Khi thảo luận tới chính trị, vị giáo hoàng tương lai cho hay truyền giảng các giá trị nhân bản và tôn giáo luôn có một hậu quả chính trị “bất luận thích hay không”. Tuy nhiên, thách thức nằm ở chỗ đề xuất giá trị “mà không pha mình vào” một cách “chính trị phe phái”. Ngài phê phán báo chí đã rút gọn điều ngài nói vào “bất cứ điều gì thuận lợi”. Ngài bảo: “Ngày nay, từ hai hay ba sự kiện, báo chí gọt dũa ra một điều khác hẳn: họ thông tri sai lạc cho ta”.

Xa hơn chút nữa, ngài cho rằng các nhà lãnh đạo tôn giáo có nghĩa vụ phải bênh vực các giá trị chứ không giảng dạy “chống điều này điều nọ”. Ngài bảo “chúng ta không giảng dạy chống lại bất cứ ai. Chúng ta nhắc tới các gía trị đang lâm nguy và cần được bảo vệ”. Một lần nữa, ngài chỉ trích truyền thông, giới mà ngài cho là “đôi lúc bị nhiễm chứng viêm gan” vì “mầu vàng vàng của họ” và vì khuynh hướng hay “nhẩy bổ ra mà nói ‘phải khắt khe lên án điều này điều nọ’”.

Đức HY Bergoglio đặc biệt gay gắt khi thảo luận về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản. Ngài cho rằng chủ nghĩa tư bản “có cái sa đọa tâm linh của nó” vì đã tìm cách khống chế tôn giáo để nó đừng làm phiền mình thái quá, do đó đã ban phát cho tôn giáo một “chút siêu việt nào đó, nhưng không nhiều lắm”. Sự sa đọa tâm linh của chủ nghĩa cộng sản là bác bỏ thể siêu việt vì tin rằng thể này “làm tê liệt con người”, không cho con người tiến tới. Ngài cho rằng cả hai hình thức sa đọa ấy đều là biểu hiện của tính thế gian.

Về việc săn sóc người nghèo, Đức HY Bergoglio phân biệt giữa việc làm bác ái chân chính và các hoạt động xã hội làm yên lòng lương tâm, được thực hiện nhằm làm cho người làm “cảm thấy an ổn về chính mình”. Nhưng theo ngài, tình yêu “đòi con người phải ra khỏi chính họ, thực sự hiến thân cho người khác”. Ngài đơn cử trường hợp cơ quan bác ái của Giáo Hội bán đấu giá chiếc đồng hồ Rolex. Ngài bảo “Quả là một điều xấu hổ và lạm dụng bác ái. Vì đã đi kiếm một người dùng chiếc đồng hồ này để khoe mẽ hòng nuôi sống người nghèo”.

Theo ngài, điều người nghèo cần hơn cả là một việc làm đem lại phẩm giá cho họ, và không được nhìn họ một cách khinh bỉ. Ngài bảo “phải nhìn thẳng vào mắt họ” và ngài lặp đi lặp lại câu này. Điều nguy hiểm nhất khi giúp đỡ người nghèo là sa vào thái độ “cha chú che chở”, một thái độ không dành chỗ để họ tăng trưởng.

Một đặc điểm được Đức Phanxicô ca ngợi hơn cả là sự hiền lành (meekness), nhưng ngài nhấn mạnh hiền lành không phải là yếu đuối. Ngài cho rằng “một nhà lãnh đạo tôn giáo có thể rất mạnh mẽ, cương quyết, nhưng không gây hấn” và từ ngày được bầu làm giáo hoàng, ngài thường cho rằng sức mạnh thực sự của một nhà lãnh đạo tôn giáo phát xuất từ chính sự phục vụ của họ.

Ngài cho thấy một nét đầy hy vọng khi cho rằng việc đi tìm Thiên Chúa theo kiểu tôn giáo nơi phần đông người ta vẫn “tiếp tục được đẩy mạnh dù phần nào lệch ra ngoài các cơ cấu định chế”. Ngài cho hay “phúc âm hóa là việc cần thiết, nhưng chủ nghĩa duy cải đạo (proselytism) thì không”. Ngày nay, việc cải đạo này “cám ơn Chúa đã bị xóa khỏi tự điển mục vụ”. Trích dẫn câu nói của Đức Bênêđíctô XVI “Giáo Hội là một đề xuất được tiếp nhận nhờ lôi cuốn chứ không nhờ chủ nghĩa duy cải đạo”, Đức HY Bergoglio cho rằng đức tin là “sự lôi cuốn nhờ chứng tá”.

Còn nhiều điều nữa trong sách, như các thảo luận về khoa học, hoàn cầu hóa, ly dị, giáo dục, Nạn Diệt Chủng và phụ nữ. Các đàm đạo về từng chủ đề phần lớn khá ngắn, chỉ cho ta nếm tạm mùi vị tư duy của vị giáo hoàng tương lai. Sau đây, xin trích dẫn một trích đoạn của cuốn sách nói về việc cảm nghiệm Thiên Chúa:



Cảm nghiệm Thiên Chúa

Giáo Sĩ Skorka: Đã nhiều năm kể từ ngày chúng ta gặp nhau lần đầu và một sợi dây thân ái đã được tạo nên giữa chúng ta. Khi nghiên cứu bộ Talmud, tôi thấy có câu nói rằng tình bằng hữu là ăn chung và dành thì giờ cho nhau, nhưng cuối cùng sách nhấn mạnh rằng dấu chỉ tình bạn chân chính là khả năng bộc lộ những gì trong trái tim mình cho người kia. Đó là điều đã xẩy ra cho hai chúng ta trong nhiều năm qua. Tôi tin rằng điều quan trọng nhất đem chúng ta lại với nhau chắc chắn đã là và vẫn còn là Thiên Chúa, Đấng khiến cho các nẻo đường của chúng ta gặp nhau và cho phép chúng ta mở lòng cho nhau. Trong các đàm đạo thường xuyên của chúng ta, dù đã đề cập tới nhiều chủ đề rồi, nhưng chưa bao giờ chúng ta minh nhiên nói tới Thiên Chúa. Dĩ nhiên, chúng ta luôn hiểu Người hiện hữu. Điều tốt đẹp là khởi đầu cuộc trao đổi mà chúng ta muốn để lại làm bằng chứng cho cuộc đối thoại của chúng ta, bằng cách thảo luận về Đấng hết sức quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta.

Đức HY Bergoglio: Chữ “nẻo đường” quả là tuyệt diệu. Trong cảm nghiệm bản thân của tôi với Thiên Chúa, tôi chẳng làm gì được nếu không có nẻo đường. Tôi muốn nói rằng người ta gặp gỡ Thiên Chúa bằng cách bước đi, bằng cách chuyển động, bằng cách đi tìm Người và để mình được Người tìm ra. Đó chính là hai nẻo đường gặp nhau. Một đàng, là nẻo đường ta đi tìm Người, được thúc đẩy bởi khuynh hướng bẩm sinh phát xuất từ trái tim; và sau đó, khi đã gặp nhau rồi, ta hiểu ra rằng Người là Đấng đã đi tìm ta từ lúc ban đầu. Cảm nghiệm tôn giáo sơ khởi chính là cảm nghiệm bước đi: " hãy bước tới mảnh đất Ta sắp ban cho ngươi" (St 12:1). Đây là lời hứa mà Thiên Chúa đã làm với Ápraham. Trong lời hứa ấy, trong việc bước tới này, một liên minh đã được thiết lập và được củng cố theo thời gian. Chính vì vậy, tôi cho rằng cảm nghiệm của tôi về Thiên Chúa xẩy ra dọc theo một nẻo đường, cả trong việc tôi đi tìm lẫn trong việc tôi để mình được tìm thấy, dù cho đó là những nẻo đường đa dạng, của đau đớn, của hân hoan, của ánh sáng hay của bóng tối.

Giáo Sĩ Skorka: Điều ngài vừa nói khiến tôi nhớ tới một số câu trong Thánh Kinh. Thí dụ lúc Chúa bảo Ápraham: “hãy bước đi trước mặt ta và đừng mắc lỗi lầm” (St 17:1). Hay lúc muốn giải thích cho dân Do Thái điều Thiên Chúa muốn nơi họ, tiên tri Mika nói rằng “hãy thực hiện công lý và yêu điều thiện, và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của các ngươi” (Mk 6:8). Dĩ nhiên, cảm nhận Thiên Chúa là điều năng động, nói theo kiểu chúng ta từng được học trong ngành khoa học căn bản chung của chúng ta (Giáo Sĩ Skorka có bằng tiến sĩ hóa học, còn Đức HY Bergoglio có bằng cao học về ngành này). Tuy nhiên, ngài nghĩ chúng ta có thể nói gì với con người thời nay khi thấy ý niệm Thiên Chúa quá bị tả tơi, phàm tục hóa và chẳng còn mấy quan trọng?

Đức HY Bergoglio: Điều phải nói với mọi người là hãy nhìn vào nội tâm của chính họ. Sao lãng là một gẫy đổ bên trong. Nó sẽ không bao giờ dẫn người ta tới chỗ gặp gỡ chính họ vì nó ngăn cản không cho họ nhìn vào tấm gương của chính tâm hồn họ. Tịnh tâm là bước đầu. Chính ở đó, cuộc đối thoại mới có thể bắt đầu. Đôi lúc, họ tin mình có câu trả lời duy nhất, nhưng không phải như thế. Tôi muốn mời con người thời nay tìm cảm nghiệm của việc bước vào cõi thân mật trong trái tim họ hòng biết được cảm nghiệm và khuôn mặt Thiên Chúa. Chính vì thế, tôi thích điều Gióp nói sau khi thấy cảm nghiệm khó chịu và các cuộc đàm đạo không giúp ích gì cho ông: “Con nghe lời người ta đồn đãi về Ngài, còn bây giờ, mắt con đã được thấy Người” (Gióp 42:5). Điều tôi nói với người ta không phải là biết Thiên Chúa chỉ bằng cách nghe mà thôi. Thiên Chúa Hằng Sống là Đấng các bạn có thể nhìn thấy bằng con mắt tâm hồn của các bạn.

Giáo Sĩ Skorka: Sách Gióp dạy chúng ta một bài học lớn vì, nói cho vắn tắt, nó cho rằng ta không bao giờ biết được cách Thiên Chúa tự tỏ mình ra qua các hoàn cảnh đặc thù. Gióp, một người công chính, một người chính trực, muốn biết tại sao ông mất hết mọi sự, thậm chí cả sức khỏe của mình. Các bằng hữu bảo ông rằng Thiên Chúa trừng phạt vì tội lỗi ông. Ông trả lời rằng cho dù ông có phạm tội, thì cũng đâu có đến nỗi. Gióp chỉ được an ủi khi Thiên Chúa hiện ra với ông. Các câu hỏi của ông không được giải đáp, nhưng việc cảm nhận sự hiện hữu của Người sẽ ở lại mãi trong ông. Trong câu truyện này, chúng ta có thể tìm được một số điều có thể lên khuôn nhận thức bản thân của tôi về Thiên Chúa. Thứ nhất, bằng hữu của Gióp tỏ ra ngạo mạn và vô lý khi chấp nhận lý thuyết cho rằng “mày phạm tội nên Thiên Chúa trừng phạt mày”, một lý thuyết biến Thiên Chúa thành một thứ máy vi tính chuyên tính toán phần thưởng hay hình phạt. Ở cuối câu truyện, Thiên Chúa bảo Gióp, kẻ từng trách móc các bất công của Đấng Tạo ra mình, rằng ông nên cầu bầu và cầu nguyện cho các bằng hữu của ông, vì họ đã nói sai lầm về Người (xem Gióp 42:7-8). Dưới con mắt Thiên Chúa, những kẻ lớn tiếng kêu than trong đau khổ, để cầu xin công lý của trời cao luôn làm Người hài lòng. Những kẻ nằng nặc duy trì quan điểm quá đơn giản (simplistic) về bản chất Thiên Chúa luôn bị Người ghét bỏ. Theo hiểu biết của tôi, Thiên Chúa tự tỏ mình Người cho chúng ta một cách rất tế vi. Các đau khổi hiện nay của chúng ta có thể là lời giải đáp cho người khác trong tương lai. Hoặc, có lẽ chúng ta là lời giải đáp cho một điều gì đó trong quá khứ. Trong Do Thái Giáo, Thiên Chúa được tôn kính qua việc chúng tôi tuân giữ các giới răn được Người mạc khải. Như ngài đã nhắc đến, mỗi con người và mỗi thế hệ phải tìm ra nẻo đường trên đó họ có thể tìm kiếm và cảm nhận được sự hiện hữu của Người.

Đức HY Bergoglio: Đúng vậy. Chúng ta tiếp nhận sáng thế trong tay như một hồng phúc. Thiên Chúa ban nó cho chúng ta, nhưng đồng thời, Người trao cho ta một trách vụ: là chúng ta phải khuất phục Trái Đất. Đây là hình thức đầu tiên của vô-văn hóa: điều con người tiếp nhận được, tức vật chất thô sơ phải được khuất phục để biến nó thành như văn hóa, cây gỗ phải biến thành chiếc bàn. Nhưng có lúc, con người đi quá xa trong trách vụ này; họ trở nên quá nhiệt thành và mất hết lòng kính trọng đối với thiên nhiên. Và thế là có các vấn đề sinh thái, như hâm nóng hoàn cầu, vốn là hình thức mới của vô-văn hóa. Công trình của con người trước Thiên Chúa và trước chính họ phải duy trì cho được thế quân bình thường hằng giữa hồng phúc và trách vụ. Khi con người chỉ duy trì hồng phúc mà không chịu làm việc, họ không chu toàn sứ mệnh và mãi mãi sơ khai; khi họ trở nên quá nhiệt thành với việc làm của mình, họ quên khuấy mất hồng phúc để tạo ra một nền đạo đức duy xây dựng: họ nghĩ rằng mọi sự đều là thành quả lao công của họ và không hề có hồng phúc gì cả. Đó là điều tôi gọi là hội chứng Babel.

Vũ Văn An

Theo VietCatholic

Đầu tư cho sự sống và gia đình là câu trả lời hữu hiệu cho cuộc khủng hoảng hiện nay

VATICAN - Trưa Chúa Nhật hôm qua là ”Ngày cho sự sống” tại Italia Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã dọc Kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn tín hữu tụ tập tại quảng trường thánh Phêrô, trong đó có hàng ngàn thành viên của các phong trào bảo vệ sự sống. Ngỏ lời chào họ Đức Thánh Cha nói:

Anh chi em thân mến, Chúa Nhật thứ nhất tháng Hai là ”Ngày cho sự sống” tại Italia. Tôi hiệp ý với các Giám Mục Italia mời gọi đầu tư cho sự sống và gia đình, như là câu trả lời hữu hiệu cho cuộc khủng hoảng hiện nay, như các vị đã viết trong sứ điệp gửi ngày này. Tôi chào mừng Phong trào bảo vệ sự sống và cầu chúc thành công cho sáng kiến mang tên gọi ”Một người trong chúng ta”, để cho âu châu luôn luôn là nơi mọi người được bảo vệ trong nhân phẩm của mình.

Đức Thánh Cha cũng chào đại diện các phân khoa Y khoa và Giải phẫu của các đại học ở Roma, cách riêng các giáo sư ngành Sơ sinh và Sản khoa được tháp tùng bởi Đức Hồng Y Agostino Vallini, Giám Quản Roma. Ngài khích lệ họ nỗ lực đào tạo các nhân viên y tế cho nền văn hóa sự sống.

Trước đó trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã giải thích ý nghĩa bài Phúc Ân thánh lễ Chúa Nhật, kể lại biến cố một ngày thứ bẩy Chúa Giêsu đọc và giải nghĩa Sách Thánh trong hội đường Nagiarét, nơi Người đã lớn lên và ai cũng biết gia đình Người. Đức Thánh Cha nói:

Giờ đây sau một thời gian vắng mặt, Chúa Giêsu đã trở lại Nagiarét trong một cách thức mới mẻ: trong buổi phụng vụ ngày thứ bẩy Người đọc một lời tiên tri của ngôn sứ Isaia và loan báo việc thành toàn của nó bằng cách để cho người nghe hiểu rằng lời tiên tri ấy quy chiếu về Người. Điều này khơi dậy sự bất bình của dân làng Nagiarét: một đàng, mọi người đều làm chứng và thán phục các lời ân phúc thốt ra từ miệng Người” (Lc 4,22). Thánh sử Máccô kể rằng ”nhiều người hỏi: ”Bởi đâu ông ta được những điều này? Và ông ta được khôn ngoan như vậy nghĩa là làm sao?” (Mc 6,2). Nhưng đàng khác, các người đồng hương biết Người qúa rõ. Họ nói: ”ông ta là một người trong chúng ta. Yêu sách của ông chỉ có thể là sự tự phụ” (Đức Giêsu thành Nagiarét, 11). ”Ông này không phải là con ông Giuse sao?” (Lc 4,22), như thể nói rằng: một bác thợ mộc làng Nagiaret có thể có các khát vọng nào đây?

Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: chính vì biết sự khép kín này xác nhận châm ngôn: ”Không có ngôn sứ nào lại được chấp nhận trong quê hương mình” Đức Giêsu nói với dân chúng trong hội đường các lời vang lên như một khiêu khích. Người kể lại hai phép lạ mà các ngôn sứ lớn Elia và Eliseo đã làm cho các người không phải dân Do thái, để chứng minh rằng đôi khi ngoài dân Israel có nhiều đức tin hơn. Tới đây thì phản ứng đồng nhất: mọi người đều đứng lên đuổi Chúa Giêsu ra khỏi hội đường, và còn tìm cách xô Ngươi xuống một vực sâu, nhưng với sự bình tĩnh tột độ Người băng qua đám dân chúng phẫn nộ và bỏ đi. Tới đây người ta phải tự hỏi: tại sao Đức Giêsu lại đã muốn khơi dậy sự đổ bể ấy? Ban đầu dân chúng thán phục Người và có lẽ Người đã có thể có được một sự đồng ý nào đó của họ... Nhưng đây mới là điểm đáng nói. Đức Thánh Cha giải thích lý do sự kiện này như sau:

Đức Giêsu đã không tới để tìm sự đồng ý của loài người, nhưng - như sau cùng Người sẽ nói với quan Philatô - để ”làm chứng cho sự thật” (Ga 18,37). Vị ngôn sứ thật không vâng lời ai khác ngoài Thiên Chúa, và phục vụ chna lý, sẵn sàng trả giá cho việc đó. Có đúng thật là Đức Giêsu là vị ngôn sứ của tình yêu, nhưng tình yêu cũng có chân lý của nó. Còn hơn thế nữa, tình yêu và chân lý là hai tên gọi của cùng một thực tại, là hai tên gọi của Thiên Chúa. Trong phụng vụ hôm nay cũng vang lên các lời của thánh Phaolô: ”Đức mến không vênh vang, không tự đắc, không thiếu tôn trọng, không tìm tư lợi, không nóng giận, không chý ý đến sự dữ nhận được, không vui vì bất công, nhưng vui khi thấy điều chân thật” (1 Cr 13,4-6). Tin nơi Thiên Chúa có nghĩa là khước từ các thành kiến riêng, và tiếp nhận gương mặt cụ thể, trong đó Người tự mạc khải ra: đó là con người Đức Giêsu thành Nagiarlet. Và con đường này cũng dẫn tới chỗ nhận biết Người và phục vụ Người nơi tha nhân.

Rồi Đức Thánh Cha kết luận bài huấn dụ như sau: Ở đây thái độ của Đức Maria soi sáng chúng ta. Ai là người thân thiết với nhân tính của Chúa Giêsu hơn Mẹ? Nhưng Mẹ đã không bao giờ lấy làm gương mù gương xấu như các người đồng hương Nagiarét. Mẹ giữ gìn trong tim mầu nhiệm ấy và luôn luôn ngày càng biết tiếp nhận nó hơn, trên con đường lòng tin, cho tới cái chết của Thập Giá và ánh sáng tràn đầy của sự Phục Sinh. Xin Mẹ Maria cũng giúp chúng ta trung thành và tươi vui bước đi trên con đường ấy.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc Kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin ngài đã chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Trong tiếng Pháp Đức Thánh Cha khuyến khích tín hữu cảm tạ Chúa và cầu nguyện cho tất cả những người sống đời thánh hiến, để họ lờn lên trong sự thánh thiện. Gương sống của họ lôi kéo chúng ta dành cho Thiên Chúa một chỗ rộng rãi trong đời sống, qua lời cầu nguyện, qua việc tham dự thánh lễ Chúa Nhật và đọc Lời Chúa.

Bằng tiếng Đức ngài nói sứ điệp Phúc Âm hôm nay đòi buộc chúng ta phải quyết định, không phải cho một người nhưng cho Chúa Kitô, như là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu Thế. Cả ngày nay nữa Phúc Âm cũng vấp phải sự khứơc từ của thế giới, đẩy Thiên Chúa ra bên lề và muốn hài lòng cho mình các câu trả lời dễ dãi và không ràng buộc.

Linh Tiến Khải

Theo VietCatholic

Malta: các giám mục phản đối việc thụ thai trong ống nghiệm

LA VALETTA: Trong các ngày vừa qua các Giám Mục Malta đã công bố thư mục vụ khẳng định rằng ”việc cho thụ thai trong ống nghiệm không thể được biện minh trên bình diện luân lý bằng bất cứ phương thế nào và trong bất cứ hoàn cảnh nào. Vì mục đích không biện minh cho các phương tiện.

Thư mục vụ mang chữ ký của Đức Cha Paul Cremona, Giám Mục Malta và Đức Cha Mario Grech, Giám Mục Gozo, có tựa đề ”Cử hành sự sống” được phố biến đúng lúc Quốc hội Malta đang thảo luận về việc ban hành dự luật cho phép thụ thai trong ống nghiệm tại Malta. Trong thư các Giám Mục nêu bật rằng Giáo Hội có nhiệm vụ hướng dẫn lương tâm các tín hữu liên quan đến đề tài sự sống con người. Đó là điều thánh thiêng và nền tảng và Giáo Hội có bổn phận đưa ra phán đoán luân lý về việc nghiên cứu và các phương pháp được dùng để tạo ra con người, mà không can thiệp vào lãnh vực khoa kọc, nhưng chỉ lôi kéo chú ý trên tất cả các trách nhiệm luân lý đạo đức và xã hội bắt nguồn từ bất cứ hành động nào liên quan tới con người. Vì thế các Giám Mục Malta yêu cầu luật không được sai lầm trên bình diện luân lý, và phải dựa trên ba yếu tố chính sau đây: thứ nhất phải tôn trọng sự sống con người từ lúc thụ thai cho tới khi chết tự nhiên; thứ hai tôn trọng giá trị của sự hiệp nhất vợ chồng, loại trừ tinh trùng hay trứng của người khác vì nó bẻ gẫy sự chung thủy trong hôn nhân; và thứ ba tôn trọng giá trị của tính dục bên trong hôn nhân, bởi vì sự thụ thai một sự sống mới không thể được đối xử như một cử chỉ sinh học, mà phải là sự trao tặng, kết qủa của một hành động tình yêu vợ chồng. Chính vì thế mọi kỹ thuật thay thế hành động yêu thương của vợ chồng không tôn trọng phẩm giá con người và sự kết hiệp trong hôn nhân, và vì thế không thể chấp nhận đươc.

Tiếp đến các Giám Mục Malta kêu gọi bảo vệ các bào thai, thường bị hy sinh và lèo lái để cho một đứa bé sinh ra. Việc lựa chọn chúng gây thương tổn cho phẩm giá con người và việc làm đông lạnh chúng không phải là một giải pháp có thể chấp nhận đựơc. Bởi vì phôi thai, cả khi bị đông lạnh, vẫn có các quyền bất khả xâm phạm. Do đó qua việc làm đông lạnh các phôi thai, nhân loại đang tạo ra các trại mồ côi mới, trong khi sự hy sinh của chúng cho thiện ích của một đứa bé sinh ra diễn tả việc trực tiếp hủy hoại một sự sống vô tội, và là một việc phá thai.

Đức Cha Cremona và Đức Cha Grech nhấn mạnh rằng tất cả những điều trên đây khiến cho người ta nghĩ rằng ”thụ thai trong ống nghiệm mới đầu xem ra phục vụ sự sống, nhưng trên thực tế nó là một đe dọa đối với chính sự sống. Vì thế các vị cầu mong rằng khoa học tìm ra một giải pháp không thay thế hành động hôn nhân, trợ giúp các tiến trình thụ thai của các cặp vợ chồng, và không khai thác họ trên bình diện tâm lý và tài chánh. Còn hơn thế nữa, Giáo Hội Malta yêu cầu có một nghiên cứu nghiêm chỉnh liên quan tới các lý do và việc phòng ngừa sự hiếm muộn, trong lăng kính của một nền khoa học thực sự phục vụ con người. Các Giám Mục cũng bày tỏ tình liên đới với các cặp vơ chồng không có con và nhấn mạnh rằng nó không diễn tả sự thất bại trong sứ mệnh hôn nhân của họ. Vì thế không nên nhượng bộ trước các giải pháp sai lầm trên bình diện luân lý và thường có hại cho sức khỏe thể lý và tâm thần của họ. Các Giám Mục cũng liên đới với các cặp vợ chồng đã thắng vượt các vấn đề không có con bằng cách nhận con nuôi, chứng minh cho thấy sự quảng đại của họ trao ban hy vọng cho nhiều trẻ em. Liên quan tới các trẻ em sinh ra do việc thụ thai trong ống nghiệm Giáo Hội khẳng định các em vẫn là con cái Thiên Chúa và khích lệ các cha mẹ tin tưởng nơi lòng thương xót của Thiên Chúa. Giáo Hội là cơ cấu thăng tiến sự sống hơn bất cứ cơ cấu nào khác trên toàn thế giới, và Giáo Hội dậy rằng sự sống con người không phải là một sản phẩm có thể nhào nắn, sử dụng rồi vứt bỏ.

(SD 6-12-2012)

Linh Tiến Khải

Theo Radio Vatican