Phá thai ở Việt Nam tăng vọt do chương trình KHHGĐ bỏ qua giới trẻ

Nhiều người trẻ Việt Nam hiện nay tin phá thai là một hình thức tránh thai


Nguyễn Văn Thảo, nông dân Công giáo, đứng bên các quách bằng gốm dùng để chôn thai nhi tại một nghĩa trang Công giáo ở ngoại ô Hà Nội hồi tháng 8 
(Ảnh: AFP/Hoàng Đình Nam)

Tại một nghĩa trang ở Hà Nội, nông dân Công giáo Nguyễn Văn Thảo mở tủ lạnh kéo ra một bọc thai nhi dính đầy máu để chuẩn bị đem chôn, đây là lời cảnh báo đáng lo ngại rằng Việt Nam đang trở thành một trong những nước có tỉ lệ phá thai cao nhất thế giới.

Khoảng 40% phụ nữ mang thai tại Việt Nam đi phá thai, theo báo cáo của các bác sĩ đến từ bệnh viện Khoa sản Trung ương Hà Nội, con số này cao gấp đôi số liệu thống kê chính thức.

Do chính sách hạn chế sinh đẻ, tư vấn kế hoạch hóa gia đình không tốt cho người trẻ, và thông tin mâu thuẫn về tình dục đã tạo ra một tình huống trong đó một số người tin phá thai là một hình thức tránh thai.

Có 83 ca phá thai trong số 1000 phụ nữ ở tuổi sinh sản tại Việt Nam, trong khi có khoảng 10-23 ca phá thai trong số 1000 phụ nữ ở phần lớn Tây Âu và Mỹ, theo tổ chức phi lợi nhuận chăm sóc sức khỏe giới tính, Viện Alan Guttmacher.

“Vào ngày bận rộn nhất, chúng tôi nhận được 30 thai nhi”, ông Thảo nói. Ông đứng đầu một đội tình nguyện viên đa số là người Công giáo đi nhặt các thai nhi, thường bị vứt như rác thải y tế, từ các cơ sở phá thai trên khắp thủ đô trong khoảng 10 năm nay.

“Khó mà tính được chúng tôi đã chôn bao nhiêu thai nhi rồi”, Nguyễn Thị Quý, tình nguyện viên 62 tuổi, phát biểu. Bà giúp ông Thảo liệm các thai nhi trước khi đem chôn đàng hoàng tại nghĩa trang ở quận Sóc Sơn, Hà Nội.

Trong nhiều thập niên qua, nhà nước Cộng sản Việt Nam thực hiện chính sách mỗi gia đình chỉ có hai con, vừa áp dụng hình thức phạt hành chính vừa trợ cấp chương trình kế hoạch hóa gia đình để hạn chế sự gia tăng dân số. Chương trình này hiện đã được bỏ nhưng hậu quả của nó vẫn còn.

Phá thai không hề bị xã hội lên án và con số chính thức khoảng 500.000 trong số 2,4 triệu thai phụ, khoảng 1/5, phá thai, chỉ tính theo số liệu thống kê từ các bệnh viện nhà nước.

“Đời sống tình dục ở giới trẻ có vấn đề … hệ thống sức khỏe công cộng không phục vụ họ”, Arthur Erken, đại diện Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) ở Hà Nội, phát biểu.

Hành vi tình dục nơi người trẻ Việt Nam đã hoàn toàn thay đổi trong vài thập niên qua, họ quan hệ tình dục sớm hơn và kết hôn trễ hơn, nhưng những dịch vụ kế hoạch hóa gia đình lỗi thời ít tư vấn hay giới thiệu biện pháp tránh thai thích hợp cho các đôi bạn trẻ chưa kết hôn, theo các chuyên gia.

Kết quả là họ nghi ngờ nên phá thai, thai trên 22 tuần vẫn được cho phép bỏ phổ biến, đặc biệt là tại các bệnh viện tư hợp pháp nhưng đa số không được kiểm soát, đang được sử dụng để phá bỏ các thai nhi ngoài ý muốn thường xuyên hơn ở các nước khác.

“Các bệnh viện tư không được kiểm tra cách có hệ thống. Có thể còn nửa triệu ca phá thai nữa không được báo cáo”, Erken nói.

Ông nói thêm với con số này tỉ lệ phá thai của Việt Nam nằm ở khoảng một triệu ca trong số 2,4 triệu người mang thai và cảnh báo con số này “sẽ còn tăng trừ khi chúng ta có hành động”.

Thiếu thông tin

Do giáo dục giới tính yếu kém ở các trường học, thường thiếu thông tin về sức khỏe sinh sản, và không tiếp cận được các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình miễn phí, nên đối với nhiều người trẻ Việt Nam mang thai ngoài ý muốn là chuyện bình thường.

“Tôi đã phá thai 3 lần rồi”, Hoa, một cô gái 20 tuổi ăn mặc hợp thời trang, nói sau khi phá thai lần thứ ba tại một bệnh viện tư ở Hà Nội.

“Lần đầu tôi hơi sợ nhưng bây giờ thì quen rồi”, Hoa nói và thêm rằng cô không hiểu tại sao cô cứ mang thai mặc dù cô và bạn trai đã thực hiện các biện pháp tránh thai.

Nhiều người trẻ Việt Nam không có kiến thức về phương pháp tránh thai, theo Lê Ngọc Bảo, đại diện tổ chức kế hoạch hóa gia đình Pathfinder International tại Việt Nam.

Và trong khi xã hội ngày càng dễ dãi, sinh con ngoài giá thú vẫn còn bị lên án.

“Nếu họ mang thai ngoài ý muốn … cách giải quyết duy nhất là phá thai”, ông nói.

Trong khi nhiều người trẻ không “hoàn toàn hiểu được tác hại của việc phá thai”, chi phí mua bao cao su hay thuốc tránh thai dường như tốt hơn là mạo hiểm không dùng biện pháp tránh thai, ông gợi ý.

Ngoài ra, Việt Nam có tỉ lệ phá thai cao mặc dù số liệu thống kê cho thấy Việt Nam áp dụng rộng rãi các biện pháp tránh thai, dấu hiệu chứng tỏ tư vấn kế hoạch hóa gia đình yếu kém, ông Bảo nói thêm.

Tại bệnh viện tư và cơ sở nhà nước, thậm chí tư vấn sau khi phá thai cũng bị hạn chế, do đó một số phụ nữ trẻ phải đi phá thai nhiều lần.

Việt Nam cần cải thiện ngay việc giáo dục giới tính và cung cấp các biện pháp tránh thai cho các phụ nữ trẻ chưa kết hôn, theo bác sĩ Trần Ninh thuộc Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam.

Áp lực về tỉ lệ sinh sản

Chính sách hai con của Việt Nam, trong khi không hà khắc như chính sách một con khét tiếng của Trung Quốc, từ lâu đã ép buộc các gia đình giới hạn số con.

“Nếu họ có ba người con, sự nghiệp của họ sẽ bị ảnh hưởng lớn, họ sẽ không được thăng chức hay nâng lương”, Giang Đặng, chuyên gia phát triển tại Trung tâm Nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng đồng, phát biểu.

Đặng nói thêm quan điểm gia đình có hai con đã “ăn sâu” và cho biết mặc dù chính sách này đã chính thức được bãi bỏ, nhưng chính quyền địa phương vẫn ngầm khích lệ vì “đối với họ điều quan trọng là kiểm soát được sự gia tăng dân số”.

Quan điểm thích con trai theo văn hóa cũng đã dẫn đến tỉ lệ phá thai cao do chọn giới tính ở một số nơi trong nước.

Để nỗ lực ngăn chặn tình trạng này, Việt Nam đã ban hành luật cấm nhân viên y tế tiết lộ giới tính của thai nhi trước khi sinh, mặc dù các chuyên gia cho rằng luật này khó thi hành và ít được tuân thủ.

Do tỉ lệ phá thai cao và nhiều thập niên thực hiện kế hoạch hóa gia đình nhằm hạn chế số con trong gia đình, Việt Nam đang trở thành một trong những nước có dân số lão hóa nhanh nhất trên thế giới, theo Erken thuộc UNFPA.

“Áp lực đè lên xã hội, cải cách lương hưu chẳng hạn, là một hiện tượng”, ông giải thích.

Theo Ucanews Việt Nam

ĐGH lột mặt nạ cái "thương cảm giả tạo" về phá thai và trợ tử

Một hội đoàn các bác sĩ công giáo ở Vatican (toàn văn)

Rôma – 17/11/2014


Đức Giáo Hoàng cảnh giác các bác sĩ chống lại "thương cảm giả tạo" cho rằng "ủng hộ phá thai chính là giúp cho người phụ nữ, và trợ tử là một cử chỉ trang nghiêm, rằng "sản xuất" một đứa nhỏ được coi như một quyền thay vì phải đón nhận nó như một quà tặng, là một kỳ công của khoa học".

"Lòng thương cảm Phúc Âm, trái lại, chính là sự tháp tùng những lúc cần thiết, là lòng thương cảm của Người Samari Nhân Lành, là người đã nhìn thấy, đã lại gần và cống hiến một sự giúp đỡ cụ thể", ngài giải thích.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tiếp kiến các thành viên của Hội các bác sĩ công giáo Ý, trong hội trường Phaolô I, hôm thứ bẩy, 15/11/2014 vừa qua, nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập hội.

Sau đây là bản dịch toàn văn bài diễn từ của Đức Giáo Hoàng



A.K.



Diễn văn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Kính chào !

Xin cảm ơn sự hiện diện và cũng cảm ơn những lời chúc mừng của quý vị : Cầu mong Chúa ban cho tôi sức khỏe ! Nhưng chuyện này cũng còn tùy các vị bác sĩ, cầu mong quý vị giúp đỡ Chúa ! Tôi muốn đặc biệt chào mừng vị Phụ Tá giáo quyền, Đức Cha Edoardo menichelli, Đức Hồng Y [Dionigi] Tettamanzi, là người phụ tá đầu tiên của quý vị, và cũng gửi một suy nghĩ đặc biệt tới Đức Hồng Y Fiorenzo Angelini, người đã chăm sóc đời sống của hội trong hàng chục năm qua, hôm nay ngài đang lâm trọng bệnh và đã phải nhập viện. Tôi cũng cảm ơn ông chủ tịch vì những lời chúc tốt đẹp dành cho tôi, cảm ơn.

Với những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, ngày hôm nay, không còn nghi ngờ gì nữa những khả năng chữa trị đã gia tăng đáng kể; tuy nhiên, dưới nhiều khía cạnh, khả năng "chăm sóc" con người, nhất là khi con người đau đớn, yếu đuối và không được bảo vệ, có vẻ sút giảm. Quả vậy, những tiến bộ của khoa học và y tế có thể đóng góp vào việc cải thiện đời sống con người, nhưng với điều kiện đừng đi xa với gốc rễ đạo đức đặc trưng của các môn học này. Vì lý do đó, quý vị, các bác sĩ công giáo, quý vị nỗ lực sống nghề nghiệp của quý vị như một sứ vụ nhân bản và thiêng liêng, giống như một tông vụ đích thực.

Sự chú ý đến sự sống con người, đặc biệt những người đang chịu đựng những khó khăn nhiều nhất, nói cách khác, là những người bệnh hoạn, cao tuổi, trẻ em, đều liên quan đến sứ vụ của Giáo Hội. Giáo Hội cảm thấy được gọi vào cuộc thảo luận có mục đích là đời sống con người, để trình bầy lập trường cơ hữu của mình, xây dựng trên Phúc Âm. Ở nhiều nơi, phẩm chất sự sống gắn liền với các điều kiện kinh tế, với "đời sống thoải mái", với cái đẹp và với những thú vui của đời sống vật chất, quên đi những chiều kích khác sâu sắc hơn như : quan hệ, thiêng liêng và tôn giáo, của đời sống. Thực chất, dưới ánh sáng đức tin, và một lý tính chính đáng, sự sống con người luôn luôn là thiêng liêng và luôn luôn là "hảo hạng". Không có sự sống nào thiêng liêng hơn sự sống nào : tất cả mọi sự sống đều thiêng liêng ! Cũng như là không có cuộc sống của một con người nào trên mặt phẩm chất lại có ý nghĩa hơn cuộc sống của một người khác, chỉ vì có các phương tiện, các quyền, các cơ hội kinh tế và xã hội quan trọng hơn người đó.

Đó chính là điều mà quý vị, các bác sĩ công giáo, quý vị phải tìm cách khẳng định trước tiên trong thái độ nghề nghiệp của quý vị. Quý vị hành động làm chứng bằng lời nói và gương sáng rằng sự sống con người luôn là thiêng liêng, có giá trị và bất khả xâm phạm, và như thế, sự sống phải được quý mến, bảo vệ và chăm sóc. Thái độ nghề nghiệp này vốn là biểu trưng của quý vị, được phong phú hóa bởi một tinh thần đức tin, là một lý do thêm nữa để cộng tác với những người – dù không có cùng viễn cảnh tôn giáo hay cùng đường hướng tư tưởng – cũng công nhận phẩm giá con người như tiêu chuẩn trong các hoạt động của họ. Quả vậy, lời thề Hippocrate ràng buộc quý vị luôn là những người phục vụ sự sống, Phúc Âm thúc đẩy quý vị đi xa hơn : đến chỗ luôn luôn yêu quý sự sống và trong mọi lúc, nhất là khi sự sống này cần đến sự quan tâm và săn sóc. Trong 70 năm hoạt động khả kính, các thành viên của quý hội đã thực hành như thế. Tôi nhắn nhủ quý vị hãy tiếp tục những mục đích theo điều lệ của quý vị, trên mặt y khoa và luân lý, bao gồm cả giáo dục của huấn quyền Giáo Hội.

Tư tưởng nổi trội đôi khi đưa ra một "sự thương cảm giả tạo" : thương cảm đánh giá phá thai là giúp đỡ phụ nữ, và trợ tử là một cử chỉ phẩm cách, "làm ra" một đứa trẻ được coi như một quyền thay vì phải đón nhận nó như một quà tặng, là một sự tiến bộ khoa học; cũng như sử dụng sự sống con người như là những con vật thử nghiệm trong các phòng thí nghiệm, với lý do là để cứu những người khác. Trái lại, lòng thương cảm theo Phúc Âm chính là tháp tùng trong lúc cần thiết, chính là lòng thương cảm của Người Samari Nhân Lành, là người đã "nhìn thấy", đã "thương cảm", đã tới gần và hiến tặng một sự giúp đỡ cụ thể (x. Lc 10, 33). Sứ mạng bác sĩ đặt quý vị, hàng ngày tiếp xúc với biết bao hình thức đau đớn : tôi khuyến khích quý vị hãy chăm sóc những nỗi đau này như "người Samari Nhân Lành", đặc biệt lưu tâm đến những người già, những người bệnh hoạn và tàn tật. Trung thành với Phúc Âm đời sống và với sự tôn trọng sự sống như một quà tặng của Thiên Chúa, đôi khi đòi hỏi những sự lựa chọn can đảm và ngược dòng, có khả năng, trong một số trường hợp đặc biệt, đi đến sự từ chối vì lương tâm. Với tất cả những hậu quả xã hội mà sự trung thành này chứa đựng. Chúng ta đang sống trong một thời đại thí nghiệm với sự sống. Nhưng chúng ta thí nghiệm sai rồi. Như tôi nói với quý vị, làm ra một đứa bé thay vì đón nhận nó như một quà tặng. Chơi đùa với sự sống. Cẩn thận, đó là một tội chống lại Đấng Tạo Hóa : chống lại Thiên Chúa Tạo Dựng, là Đấng đã tạo nên mọi sự như vậy. Biết bao lần, trong cuộc đời linh mục của tôi, tôi đã nghe những lời phản đối như : "Xin Cha cho biết, tại sao Giáo Hội lại chống phá thai chẳng hạn ? Đó có phải là một vấn đề tôn giáo không ?" – "Không, không, đây không phải là một vấn đề tôn giáo" – "Thế có phải là một vấn đề triết lý không ?" – "Không, không, không phải là một vấn đề triết lý". Đây là một vấn đề khoa học, bởi vì chính là liên quan đến sự sống con người và người ta không thể giết đi sự sống con người để giải quyết một vấn đề. "Nhưng, không, tư tưởng hiện đại…" – "Hãy nghe đây, dù trong tư tưởng cổ đại cũng như tư tưởng hiện đại thì từ giết cũng vẫn có cùng một nghĩa !". Và điều này cũng có giá trị với trợ tử : tất cả chúng ta đều biết rằng, trong cái văn hóa thải loại này, biết bao người già đã là nạn nhân của một sự trợ tử trá hình. Nhưng cũng có cái khác [cái trợ tử được công khai]. Cũng như là thưa với Thiên Chúa rằng : "Không, chấm dứt cuộc đời, chính tôi sẽ làm theo ý tôi muốn". Một tội lỗi chống lại Thiên Chúa Tạo Dựng. Xin quý vị hãy suy nghĩ điều này.

Tôi cầu chúc rằng 70 năm sống của quý hội có thể kích thích mở ra một con đường gia tăng và trưởng thành khác. Ước gì quý vị hợp tác với tất cả những người và những cơ chế chia sẻ với quý vị lòng yêu quý sự sống và tận dụng sức mình để phục vụ sự sống trong phẩm giá, tính thiêng liêng và bất khả xâm phạm của nó. Thánh Camille de Lellis, khi đề nghị phương pháp hữu hiệu nhất của ngài để săn sóc một người bệnh, đã chỉ đơn giản nói rằng : "Hãy đặt để thêm trái tim trong hai bàn tay này". Quý vị hãy đặt để thêm trái tim vào hai bàn tay này. Đó cũng chính là lời cầu chúc của tôi. Cầu mong Đức Trinh Nữ Maria Cứu chữa kẻ liệt kẻ khốn, nâng đỡ các thiện chí mà quý vị có trong lúc tiếp tục hoạt động của quý vị. Tôi xin quý vị vui lòng cầu nguyện cho tôi và với tất cả tấm lòng, tôn ban phép lành cho quý vị. Cảm ơn.


Bản dịch tiếng Pháp của Zenit
Bản dịch tiếng Việt của Mạc Khải (ghxhcg.com)

Nạo phá thai tuổi vị thành niên: Hậu quả của lối sống buông thả

Sau khi Chuyên đề ANTG đăng bài "Nạo phá thai tuổi vị thành niên: Kết cục buồn", chúng tôi nhận được nhiều email, điện thoại của bạn đọc, đề nghị nói thêm những hậu quả về tâm lý, sinh lý của việc nạo phá thai nhằm góp phần cảnh báo lối sống tình dục buông thả của một bộ phận giới trẻ hiện nay, cũng như để các nhà làm luật nghiên cứu những biện pháp, giúp hạn chế những chuyện đau lòng…


1. Như chúng tôi đã nói trong bài trước, hiện tượng trẻ vị thành niên nạo phá thai đang có chiều hướng gia tăng mà trong đó, có người phá thai đến 2, thậm chí 3 lần. Khi lấy tư liệu để thực hiện bài viết này, một số bác sĩ, điều dưỡng ở Bệnh viện (BV) Từ Dũ, Hùng Vương, ở khoa Sản của các BV quận, huyện, do nguyên tắc giữ bí mật thông tin cá nhân của bệnh nhân nên họ chỉ cung cấp cho chúng tôi nội dung vụ việc chứ không cụ thể họ tên, địa chỉ.

Bác sĩ Nguyễn Giang Hồng, nguyên Trưởng khoa Sản BV quận 3, TP HCM kể: "Trong cuộc đời làm nghề sản phụ khoa, tôi đã chứng kiến nhiều việc đau lòng. Có cô gái vào nạo thai lần đầu lúc 15 tuổi. 6 tháng sau, cô đến xin nạo lần thứ 2. Khi tôi hỏi sao không áp dụng những biện pháp ngừa thai, thì cô cười hồn nhiên: "Dạ có chứ, nhưng tại bữa đó bạn trai con… quên mất!".

Tưởng thế là xong, là đã có kinh nghiệm. Ai dè gần 1 năm sau, cô lại vào xin nạo lần thứ ba. Kết quả siêu âm cho thấy cái thai đã được 16 tuần tuổi nhưng điều khiến bác sĩ Hồng rùng mình là "nhau cài răng lược". Hình ảnh siêu âm hiển thị những mạch máu như những đám rễ cây chạy từ nhau thai trong lòng tử cung ra tới tận cổ tử cung. Bác sĩ Hồng giải thích: "Do đã 2 lần nạo phá thai nên lớp niêm mạc ở thành tử cung mỏng đi, dẫn đến hiện tượng máu không đủ để nuôi dưỡng thai nhi khiến gai nhau mọc sâu xuống lớp cơ tử cung".

Để cứu tính mạng cô gái, bác sĩ Hồng cho chuyển cô lên BV tuyến trên. Tại đây, các bác sĩ đã phải mất gần 5 tiếng làm phẫu thuật cho cô nhưng với cái tử cung mỏng manh sau phẫu thuật, chẳng biết thiên chức làm mẹ của cô mai này sẽ như thế nào.

Vẫn theo bác sĩ Hồng, có cô gái 17 tuổi, thai 29 tuần - nghĩa là đã hơn 7 tháng được bà mẹ đưa đến xin hủy thai. Mặc dù đã hết lời giải thích về những tai biến có thể xảy ra, cũng như về mặt tâm linh khi mà bào thai đã có đủ hình hài nhưng cả bà mẹ lẫn cô con gái đều cam kết xin hủy. Bác sĩ Hồng nói: "Áp dụng phương pháp "Kô vắc" - nghĩa là tạo ra cơn co tử cung để giục đẻ theo ý muốn - sau vài tiếng cô gái hạ sinh một bé trai, còn sống" nhưng chỉ ít phút thì cháu chết.

Giao cái bào thai này cho bà mẹ đem về chôn cất thì đến trưa, một điều dưỡng hộ sinh gọi bác sĩ Hồng: "Bác ơi, cả hai mẹ con trốn viện rồi, còn cái thai họ bỏ lại trên giường". Báo hại bác sĩ Hồng cùng các cô điều dưỡng hộ sinh trong khoa phải góp tiền mua một cái hòm rồi nhờ anh em y công ở BV chôn cất.

2. "Nạo phá thai dù ở tuổi nào cũng có những ảnh hưởng nhất định đến sức khỏe của người phụ nữ. Nhưng ở trẻ vị thành niên, chưa đủ trưởng thành về thể chất, lý trí, tình cảm để sẵn sàng làm mẹ thì hậu quả của nạo phá thai sẽ nặng nề hơn, nguy cơ tai biến sản khoa cũng cao hơn…", Phó giáo sư, tiến sĩ Vũ Thị Nhung, nguyên Giám đốc BV Phụ sản Hùng Vương cho biết: "Qua theo dõi, tôi thấy phần lớn trẻ vị thành niên khi lỡ mang bầu đều luôn tìm cách giấu giếm. Có trẻ nịt bụng thật chặt, có trẻ ăn mặc quần áo rộng thùng thình để ngụy trang nên lúc người nhà phát hiện thì cái thai đã tương đối to. Phá thai to cũng cực khổ như sinh con vậy, chưa kể nó còn để lại tâm lý nặng nề cho trẻ".

Ở khoa Sản BV Đa khoa quận 6, tôi đã nghe một nữ hộ sinh kể lại câu chuyện vừa bi vừa hài: Có bà mẹ, khi con gái mang bầu đến tháng thứ 5 thì bà mới biết. Đưa con vào BV để xin hủy thai, bà than thở: "Mấy lần tôi bắt gặp nó lấy băng thun nịt bụng, hỏi thì nó trả lời là nó đang tập thể dục thẩm mỹ nên phải nịt để giữ cho bụng thon (?!). Lúc đầu tôi cũng tin nhưng sau để ý thấy 3 tháng liền mà nó không có kinh, chừng gặng hỏi, nó mới thú nhận".

Rồi bà quay sang đứa con gái: "Người ta tập thể dục càng ngày càng thon, còn mày thể dục thì càng ngày càng to, mà to… cái bụng! Trời ơi là trời, nhục ơi là nhục".

Giao tính mạng cho những bà mụ vườn phá thai thì coi như... chết chắc.

Đi nạo phá thai, nhiều trẻ vị thành niên còn không biết mình mang bệnh phụ khoa. Một bác sĩ ở BV Hùng Vương kể, có bà mẹ dẫn đứa con gái 15 tuổi đến xin phá thai. Trong đơn, bà viết: "Hoang thai nên bảo lãnh cho con được phá thai to. Có gì xảy ra tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm". Kết quả xét nghiệm cho thấy ngoài thai nhi 19,5 tuần tuổi, cô gái còn nhiễm nấm Candida.

Vị bác sĩ này nói: "Lúc thăm khám, tôi sờ, đụng chân em bé. Mặc dù mỗi lần đỡ đẻ, chuyện đụng chạm thai nhi là chuyện bình thường nhưng lần đó, một cảm giác rất lạ khiến tôi ớn lạnh, suốt đời khó có thể quên được".

Sau khi điều trị nấm, cô được đặt túi ối giả để phá thai. Mấy tiếng sau, "sản phụ" “sinh” ra được một em bé nặng 400g, chết bầm tím. Một bà mẹ khác cũng ký đơn bảo lãnh cho con gái 15 tuổi, phá thai 21 tuần tuổi. Vì đang có bệnh phụ khoa - viêm nhiễm âm đạo do tạp khuẩn nên sau khi điều trị, cô gái mới được làm thủ thuật. Kết quả cô sinh được một bé gái nặng 1.000g, không dị tật, nhưng đã chết sau sinh 10 phút.

Có trường hợp còn đau lòng hơn: Cha đưa con gái đi nạo phá thai.Trong đơn, người cha khốn khổ này viết: "Tôi là cha ruột của YYY, xin cam đoan bảo lãnh cho con tôi được phá thai to...".

Cũng như hai trường hợp vừa nêu, cô gái bị nhiễm trùng sinh dục nên lúc điều trị xong, cô được đặt túi ối giả để phá. Ba tiếng sau, bác sĩ phải rút túi ối giả rồi truyền dịch để điều chỉnh cơn co tử cung. Mãi gần nửa đêm, chịu đựng những cơn đau bụng quằn quại, cổ tử cung mới mở hết, "sản phụ" “sinh” ra được một bé gái nặng 300g.

Phá thai tuổi vị thành niên, hầu như ai cũng gặp phải những hậu quả, cả về tâm lý lẫn sinh lý. Về sinh lý, hậu quả gần là băng huyết nếu thai to, sốc, thủng tử cung - nếu nạo bằng dụng cụ - sót nhau, nhiễm trùng - mà nếu nhiễm trùng nặng thì có thể phải cắt bỏ tử cung. Hậu quả xa là viêm nhiễm mãn tính ở cổ tử cung, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng, dính buồng tử cung, nghẹt ống dẫn trứng, dẫn đến hiện tượng thai ngoài tử cung trong lần có thai sau này, vô sinh thứ phát, nhau cài răng lược, vỡ tử cung, nhau tiền đạo, chưa kể nạo thai nhiều lần sẽ làm mỏng thành tử cung khiến lần mang thai tiếp theo, thai thường khó giữ được..

Phân tích trên 300 ca điều trị vô sinh tại TP HCM thì 10% có tiền sử nạo và sảy thai trước đó. Nhiều phụ nữ mới 25, 27 tuổi đã phải đi chữa vô sinh vì từng nạo phá thai. Tại các BV, thủ tục nạo phá thai rất đơn giản nhằm giúp cho những người có "nhu cầu" không phải tìm đến những điểm phá thai "chui" nhưng ngược lại, tạo điều kiện thuận lợi để trẻ vị thành niên trút bỏ cái thai một cách… "nhẹ nhàng"!

Bên cạnh đó, trẻ vị thành niên nếu sinh con ngoài ý muốn, có thể gặp phải các tai biến như đẻ non, chết mẹ, chết con hoặc đứa trẻ chào đời bị dị tật bẩm sinh, suy dinh dưỡng, chậm phát triển trí não, chưa kể do không có kiến thức làm mẹ, và nếu không được sự hỗ trợ từ gia đình thì những bà mẹ bất đắc dĩ này khó mà chăm sóc con chu đáo.

Bao giờ cô gái này mới tìm lại được sự thăng bằng trong cuộc sống?

Về tâm lý, nhiều trường hợp nạo phá thai xong - nhất là những trường hợp bị lừa dối tình cảm thì người phụ nữ rất dễ rơi vào tình trạng trầm cảm, bởi không thể chia sẻ được với ai. Bác sĩ Ngọc, có thâm niên 32 năm trong ngành sản phụ kể tôi nghe câu chuyện về một thiếu nữ 16 tuổi, do quá tin tưởng vào những lời đường mật của người yêu nên đã 2 lần nạo phá thai. Tuy nhiên, sau lần thứ 2, cô mới nhận ra chân tướng của con người mà cô đã từng yêu say đắm. Anh ta chỉ lợi dụng cô để thỏa mãn nhục dục.

Bác sĩ Ngọc nói: "Do ngày nào cũng giải quyết cho hàng chục bệnh nhân nên đối với tôi, cô gái ấy cũng như tất cả những cô gái khác mà tôi gặp trong phòng kế hoạch hóa gia đình". Bẵng đi vài năm, vừa rồi đến viếng một ngôi chùa ở Tây Ninh nhân dịp Lễ Vu Lan, bác sĩ Ngọc nhìn thấy trong một gia đình cũng đi viếng chùa, có cô gái mặc quần áo màu lam, đầu bịt khăn lam như người đi tu, gương mặt quen quen!

Lục lọi lại trí nhớ, bác sĩ Ngọc biết cô gái này đã từng được chị làm thủ thuật nạo phá thai và cô gái kia cũng nhận ra chị: "Chúng tôi chào hỏi nhau, cầu chúc cho nhau gặp nhiều điều tốt đẹp, nhưng tuyệt nhiên cả hai chẳng ai nhắc lại chuyện cũ, coi như nó chưa từng xảy ra".

Bác sĩ Ngọc nói: "Cô ấy vẫn còn rất đẹp. Cuộc đời của cô ấy có lẽ sẽ đổi khác, sẽ có một gia đình tử tế, có những đứa con ngoan, có một người chồng tốt nếu như trước kia cô ấy không mắc phải sai lầm. Do cắn rứt vì những việc mà mình đã làm, cô ấy chọn con đường tu tại gia để sám hối…".

3. Theo y học, độ tuổi sinh đẻ lý tưởng nhất của phụ nữ là từ 21 đến 35 tuổi vì cơ thể đã phát triển hoàn thiện, tâm lý ổn định, sẵn sàng cho thiên chức làm mẹ nhưng trong thực tế, ngày càng nhiều trường hợp mang thai ở tuổi vị thành niên. Ở độ tuổi ấy, trẻ chuyển tiếp từ thiếu niên thành người lớn, hình thành nhân cách thông qua hiện tượng dậy thì.

Theo bác sĩ Nguyễn Giang Hồng, hiện tại độ tuổi dậy thì của trẻ em gái ở Việt Nam diễn ra sớm hơn. Có trẻ mới 13, 14 tuổi nhưng thân thể đã phát triển như thiếu nữ, thay vì phải 16, 17 tuổi.

Bước vào tuổi dậy thì, trẻ có những chuyển biến về tâm lý, tò mò về thể xác, muốn tìm tòi, khám phá về giới tính của mình và của người khác giới nên dễ bị ảnh hưởng của phim ảnh, sách báo, bạn bè hoặc người lớn về các vấn đề tình dục. Một số - nhất là ở những vùng nông thôn, trẻ thiếu hẳn sự hiểu biết về thụ thai và không có một nhận thức gì về sinh sản cũng như việc tránh thai. Các khảo sát cho thấy những trẻ vị thành niên có quan hệ tình dục trước tuổi thường xuất thân từ những gia đình có nhiều xáo trộn, giáo dục thiếu sót, nên trẻ dễ nghe theo lời dụ dỗ của người khác để "thử cho biết".

Bác sĩ Ngọc nói rằng: "Có những bậc cha mẹ khi nghe con gái mình xin cho "đến nhà bạn ở qua đêm để học bài, ôn bài", hoặc đi du lịch chung với nhau dài ngày thì gật đầu ngay mà không cần kiểm tra xem nó nói thật hay nói dối, con đi với bạn là những ai. Chỉ đến khi hay tin con gái… mang bầu thì họ mới té ngửa!". Lúc đó, thay vì nhẹ nhàng tìm cách giải quyết, tạo điều kiện cho trẻ nhận biết sự sai lầm thì nhiều bậc cha mẹ lại trút tất cả tức giận lên đầu đứa con, cứ y như mọi sự đều do nó gây ra mà không hề nghĩ rằng sự thiếu quan tâm, giáo dục đã vô tình giúp trẻ có điều kiện thuận lợi về sự chung đụng, dẫn đến trẻ bị kích thích nhu cầu tình dục bản năng.

Về phía học đường, giáo dục giới tính thường chỉ hướng đến "hiểu biết" chứ chưa chú trọng đến "sự sống con người", dẫn đến hiện tượng nhiều trẻ không hiểu hết về "giá trị cuộc sống". Bác sĩ Ngọc nói: "Nạo phá thai là công việc tôi phải làm vì nghề nghiệp của tôi là như vậy. Nhưng mỗi đêm về nhà, trước khi đi ngủ, tôi thường dành 1 tiếng đồng hồ để tĩnh tâm, để nghĩ về những sinh linh bé bỏng không bao giờ được nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Nếu trẻ vị thành niên được giáo dục chu đáo về "giá trị cuộc sống" thì có lẽ, vấn nạn trẻ mới 14, 15 tuổi mà đã mang thai hy vọng sẽ phần nào giảm bớt".

Về pháp lý, luật sư Trương Xuân Tám, Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho biết: Theo Điều 115 Bộ luật Hình sự, người đã thành niên mà giao cấu với trẻ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi - cho dù được sự ưng thuận của trẻ - cũng phạm vào tội giao cấu với trẻ em. Nhưng nếu cả hai đều nằm trong độ tuổi 13 đến dưới 16 thì lại không phạm vào tội này!

Vì thế, nếu không có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, học đường và xã hội thì chuyện "chồng" tuổi 15, dẫn "vợ" mới 15 tuổi, hoặc mẹ dẫn con gái 13, 14 tuổi đi nạo phá thai chắc khó mà chấm dứt được.

Theo CAND

Nạo phá thai tuổi vị thành niên: Kết cục buồn

Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, mỗi năm cả nước có từ 1,2 đến 1,6 triệu ca nạo phá thai, trong đó khoảng 300.000 ca ở tuổi vị thành niên, còn những ca nạo phá thai tại các cơ sở y tế tư nhân thì không thể kiểm soát, thống kê được.

Có người đến bệnh viện hoặc phòng khám tư để phá thai khi mới chỉ 12, 13 tuổi và cũng không thiếu những người nạo phá thai 2, 3 lần. Bên cạnh đó, một cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam cho thấy 7,6% số người ở độ tuổi này có quan hệ tình dục trước hôn nhân…

1. Ngồi ở chiếc ghế cạnh tôi bên ngoài phòng thủ thuật, Khoa Kế hoạch hóa gia đình, Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, TP HCM là một phụ nữ khoảng hơn 40 tuổi. Nhìn cách ăn mặc lam lũ của chị, tôi đoán hoàn cảnh kinh tế của chị chắc cũng chẳng khá giả gì. Thấy chị thỉnh thoảng lại đưa tay lên chùi nước mắt, tôi vừa đưa cho chị chai nước khoáng, vừa nói như tự thán với chính mình: "Chị uống đi. Ráng giữ bình tĩnh. Gì chăng nữa thì cũng là chuyện đã rồi".

Tôi vào Khoa Kế hoạch hóa gia đình - BV Từ Dũ để lấy tư liệu viết bài về nạn nạo phá thai tuổi vị thành niên. Thật lòng mà nói, tôi chẳng sung sướng gì khi phải đóng vai một ông bố, có đứa con gái mới 16 tuổi nhưng lỡ dính bầu bởi một đứa bạn cùng lớp. Nhưng nếu không ở cái vị trí "đồng cảnh ngộ" như thế thì làm sao có thể hiểu được hoàn cảnh đau lòng của các ông bố bà mẹ khi phải cắn răng đưa con gái đi nạo thai!

Hồi bác sĩ Lập còn là phó giám đốc, trong một lần vào gặp anh và khi biết anh đang ở bên Khoa Kế hoạch hóa gia đình để giải quyết một chuyện gì đó, tôi sang. Khi ấy, tôi đã chứng kiến một phóng viên trẻ của một tờ báo hỏi một phụ nữ mà như tra vấn: "Hàng ngày ở nhà chị có quan tâm đến con chị không?”, "Sao chị biết nó có bầu". "Sao không để nó sinh mà dẫn nó đi phá?", "Sao không bắt bên kia phải chịu trách nhiệm?". Chao ôi, vết thương tinh thần đang há miệng, lại bị mũi dao của cậu "phóng viên" thọc sâu vào tận rễ thần kinh thì 1 năm, 2 năm, thậm chí 3 năm nữa, chưa chắc cõi lòng của người mẹ ấy đã quân bình lại được.

Nhìn chai nước, người phụ nữ khẽ lắc đầu và những giọt nước mắt lại tiếp tục trào ra. Tôi đưa cho chị chiếc khăn giấy: "Thôi chị đừng khóc nữa…" thì đột nhiên như một con đập bằng đất không ngăn nổi dòng nước lũ từ đầu nguồn đổ về, chị nấc lên: "Hoàn cảnh nhà anh thế nào tui không rõ nhưng tui khổ lắm anh ơi. Ba nó bỏ theo người khác từ hồi nó mới 3 tuổi. Tui ráng chịu cực làm ăn nuôi nó, chỉ mong nó nên người. Nào ngờ…".

Rồi chị lại khóc. Xen lẫn giữa những tiếng nức nở là câu chuyện về đứa con gái 16 tuổi của chị. Vì chỉ có mỗi mình nó nên chị dồn hết tình thương cho nó: "Tui là công nhân thuộc tổ vệ sinh dân lập. Cứ 6 giờ chiều là tui theo xe đến từng nhà trong khu vực, lấy rác. Sau đó đưa rác về nơi tập kết, phân loại đến 11 giờ, thậm chí có bữa 12 giờ khuya mới xong". Lương tháng hơn 3 triệu, cộng với tiền thu gom, bán phế liệu, chị được chia thêm - có tháng 300 nghìn, có tháng chỉ 100 - 200 nghìn. Bên cạnh đó, ban ngày chị còn nhận dán bao bì giấy cho một tổ hợp nên cũng kiếm thêm chút ít. Chị nói: "Vì mình nghèo nên tui ráng cho con ăn học tử tế. Cứ mỗi chiều, chuẩn bị cơm nước cho nó xong, tui dặn nó coi nhà, học bài rồi mới đi làm. Năm lên lớp 9, con xin tui mua chiếc điện thoại di động, tui cũng chiều".

Thế nhưng, người mẹ khốn khổ không hề biết rằng ngay giữa năm lớp 9, đứa con gái của chị đã vướng vào chuyện yêu đương. Mỗi chiều, đợi chị ra khỏi nhà là chừng một tiếng sau, nó cũng đóng cửa, đến chỗ hẹn với người yêu: "Khuya nào đi làm về tui cũng thấy nó đã ngủ nên tui chẳng nghi ngờ gì". Vậy mà vừa rồi, bữa cơm hôm đó chị nấu canh cá. Vừa bưng tô canh đặt lên bàn và khi đứa con gái của chị nhìn thấy, ngửi thấy mùi tanh của cá, nó nôn ọe không ngừng.

Với kinh nghiệm của một người mẹ đã từng mang nặng đẻ đau, nhất là khoảng một tuần lễ trước, chị thấy nó hay ăn vặt và ngủ vật vờ thì chị đã có linh cảm xấu: "Tui gặng hỏi nó. Thoạt đầu nó chối nhưng tui nói nếu không khai thiệt thì tui đưa nó đi bác sĩ. Lúc ấy nó mới thú nhận là nó quen thằng kia và hai đứa đã từng gần gũi nhau nhiều lần. Tới hồi đi khám, cái thai trong bụng nó đã được 6 tuần tuổi…".


Cô gái trẻ này nghĩ gì sau một lần… lỡ dại?

Câu chuyện giữa tôi và chị bị ngắt quãng vì cánh cửa Phòng Kế hoạch hóa gia đình khẽ mở rồi một cô gái gầy gò, da xanh tái, mặt cúi gằm, nặng nề bước ra. Nhìn thấy cô gái, chị bật dậy, đi như chạy đến bên nó. Tay chị quàng qua bên người, xốc nách nó, miệng chị ghé sát tai nó thì thầm câu gì đó rồi hai mẹ con lặng lẽ bước ngang qua tôi, ngang qua những bà mẹ khác mắt vẫn đăm đăm nhìn về cánh cửa Phòng Kế hoạch hóa gia đình.

2. Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 300 ngàn ca nạo hút thai ở độ tuổi từ 15 đến 19, cá biệt có em mới chỉ 12 - 13, trong đó 60 - 70% là học sinh, sinh viên. Một báo cáo của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình cho thấy mặc dù tỷ lệ phá thai ở Việt Nam trong 10 năm gần đây đã giảm, nhưng tỉ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên, thanh niên lại có dấu hiệu gia tăng, chiếm hơn 20% các trường hợp nạo phá thai. Với con số như trên, Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ 5 trên thế giới.

Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở Việt Nam ngày càng sớm, có trẻ 13 - 14 tuổi đã quan hệ tình dục nhưng kiến thức về phòng tránh thai, phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục vẫn rất hạn chế - chỉ khoảng 20,7% biết cách sử dụng các biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên.

Lý giải về tình trạng này, các chuyên gia dân số nhận định nguyên nhân là do tục tảo hôn, do giới trẻ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về giới tính, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, tình dục còn chưa được phổ biến rộng rãi, đặc biệt với trẻ sống ở nông thôn, miền núi. Bên cạnh đó với cuộc sống hiện đại, khá nhiều trẻ vị thành niên có điều kiện tiếp cận với những tiến bộ khoa học như điện thoại di động, máy tính, iPad, mạng Internet, trong đó hằng hà sa số những trang web "đen" với những thước phim, những hình ảnh, những câu chuyện "đực, cái", tạo cho trẻ sự kích thích, tò mò, bắt chước làm thử!

Chưa kể các loại thuốc phá thai khẩn cấp được quảng cáo tràn lan trên mạng, kèm theo hướng dẫn rất cụ thể nên khi hậu quả xảy ra, cách giải quyết duy nhất là uống thuốc hoặc đến bệnh viện, đến các cơ sở y tế tư nhân để nạo phá thai! Ở Khoa Kế hoạch hóa gia đình BV Hùng Vương, tôi đã thấy một đôi trai gái mặt mũi non choẹt ngồi dựa sát vào nhau. Và trong khi cô gái biểu lộ thái độ bồn chồn, nhấp nhổm không yên thì cậu con trai vẫn thản nhiên chơi game trên chiếc điện thoại di động.

Chừng như quá lo lắng, cô hỏi: "Chồng à, có đau không?". Ôi trời, vắt mũi chưa sạch, lấy nhau hồi nào mà đã gọi nhau là chồng, là vợ nhưng ác thay, nó lại là cách xưng hô phổ biến của nhiều cặp trai gái tuổi "teen" bây giờ!

Đáp lại câu hỏi ấy, cậu trai vẫn dán mắt vào màn hình điện thoại: "Chắc không đâu. Một chút là xong liền. Bộ vợ không để ý mấy người vừa đi ra đó sao, họ đi bình thường mà". Cô gái vùng vằng: "Chồng có làm đâu mà biết là không đau". Ngay lúc ấy, nhìn thấy một phụ nữ vừa bước vào, cậu trai như gặp phao cứu sinh: "Thôi, để chồng nhường chỗ cho họ ngồi. Chồng ra ngoài đợi vợ nhé".

Rồi cậu đứng dậy, mặc cho cô gái với tay ra như muốn níu giữ. Bác sĩ Nguyễn Giang Hồng, nguyên Trưởng Khoa Sản, BV quận 3 nói: "Hơn 30 năm làm nghề này, tôi vẫn thấy phát hoảng về kiến thức phòng tránh thai của giới trẻ tuổi "teen". Theo bác sĩ Hồng, có những cặp khi đến làm thủ tục nạo phá thai, vẫn cãi nhau chí chóe vì "không hiểu sao mà dính được". Có cô gái lặng lẽ đến một mình, thai 21 tuần tuổi. "Kế hoạch" xong, cô về nhưng 2 ngày sau, bộ phận y tế của nhà trường nơi cô đang theo học đưa cô vào bệnh viện trong tình trạng tụt huyết áp, trụy tim mạch do mất máu. Qua tìm hiểu mới hay khi biết mình có bầu, cô báo cho người yêu thì anh ta đánh bài "lờ".

Cực chẳng đã, cô lặng lẽ đi giải quyết rồi hôm sau, cô đi học bình thường. Tới hồi học môn thể dục, phải nhảy, phải chạy bộ, cô cắn răng chịu đựng những cơn đau bụng cho đến khi té xỉu vì mất máu. Bác sĩ Hồng nói tiếp: "Mặc dù trong chương trình, các em đều được học về giáo dục giới tính nhưng không ít em bỏ ngoài tai những lời khuyên, những cảnh báo, dẫn đến nhiều em mất quyền làm mẹ suốt đời".



Nạo phá thai luôn để lại nỗi đau thể xác, tinh thần.

Thạc sĩ, bác sĩ Đào Trần Thái, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Tâm thần, Đại học Y Dược TP HCM cho biết: "Nhiều người phá thai xong, lương tâm cắn rứt vì nghĩ rằng mình đã làm một việc tội lỗi. Do phải giấu giếm, không thể tìm được sự cảm thông, an ủi của ai nên về lâu về dài, họ bị trầm cảm".

Theo bác sĩ Thái, ông đã từng điều trị một bệnh nhân gặp phải trường hợp này. Người nhà bệnh nhân cho biết con gái họ đang học lớp 12 thì bỏ ngang, cả ngày đóng cửa nằm trong phòng, ăn uống thất thường, khóc lóc vô cớ. Nhiều lần, họ thấy con họ vừa thắp nhang lên bàn thờ, vừa lâm râm khấn vái. Nghĩ con mình bị bùa bị ngải, cha mẹ cô đưa cô đến "thầy" này, "bà" kia nhưng kết quả chỉ là con số không.

Bác sĩ Thái cho biết tiếp: "Khi gia đình dẫn cô ấy đến gặp tôi, thoạt đầu cô ấy không chịu hợp tác, hỏi gì cũng không nói còn nếu có thì cũng chỉ là gật hoặc lắc đầu. Phải sau nhiều lần áp dụng liệu pháp tâm lý, cô gái mới kể ra sự thật".

Theo lời cô, ngay từ năm lớp 11, cô đã yêu một anh chàng học trên cô một lớp. Lúc cô lên lớp 12 thì cũng là lúc anh chàng kia tốt nghiệp phổ thông trung học, đồng thời cũng là lúc cô biết mình… có bầu! Báo tin cho người yêu biết thì người yêu xúi cô đi phá thai. Mặc dù đã hết lời năn nỉ, đề nghị anh ta làm đám cưới nhưng anh ta vẫn nhất quyết không chịu vì "chưa có tương lai". Cuối cùng, cô lặng lẽ đến một cơ sở y tế tư nhân để "giải quyết".

Bác sĩ Thái nói: "Suốt những lần điều trị cho cô ấy, cô luôn cho rằng mình đã phạm tội giết người". Phải mất gần 6 tháng áp dụng liệu pháp tâm lý, cô gái mới rũ bỏ được mặc cảm tội lỗi nhưng trong tiềm thức cô, cái mặc cảm ấy không thể một sớm một chiều mà phai nhạt được: "Với những người như vậy, trong tương lai họ rất khó tìm được tình yêu vì họ luôn sợ rằng biết đâu bi kịch lại đến với họ thêm một lần nữa".

3. Có thể nói mấy năm gần đây, vấn đề nạo phá thai ở tuổi vị thành niên đang trở nên nhức nhối. Những cuộc khảo sát cho thấy giới trẻ - nhất là giới trẻ thành thị quan niệm rất "thoáng" về tình dục trước hôn nhân. Bác sĩ Hồng cho biết có những cặp khi vào bệnh viện làm thủ tục nạo phá thai, đã trả lời câu hỏi tại sao mới 15 tuổi mà đã quan hệ tình dục thì họ trả lời vì yêu nhau nên… "tự nguyện dâng hiến", hoặc "có "gần" nhau thì mới chứng tỏ được tình yêu".

Cũng có một số cho rằng mình không làm chủ được bản thân, bị đánh lừa, bị rơi vào hoàn cảnh bất khả kháng hoặc vì mục đích giữ chân người tình: "Tôi đã từng làm thủ thuật cho một cô chỉ mới 16 tuổi. Theo lời cô ấy thì suốt một năm yêu nhau, cô không cho người yêu quan hệ mặc dù anh ta nhiều lần đòi hỏi. Thế nhưng khi biết người yêu đang ngấp nghé một cô gái khác, cô chủ động "biếu không" cho người tình với niềm tin là qua "quan hệ", cô sẽ giữ được tình yêu".

Bác sĩ Hồng lắc đầu: "Chao ơi, sao lại có niềm tin ngây thơ đến thế!". Tới lúc cô báo tin có bầu, anh chàng người yêu cô quay ngoắt 180 độ: "Trước kia em khó khăn chẳng qua là em "làm giá" thôi. Bây giờ em dễ dàng cho anh thì biết đâu mai mốt em lại chẳng dễ dàng cho những thằng khác…"?


Theo CAND

Liên Hiệp Quốc nói rằng chống phá thai là một hình thức tra tấn

Trung tâm Âu châu về Luật pháp và Tư pháp, trong một báo cáo hôm thứ Năm, 15 tháng 5, Liên Hiệp Quốc đã lên án việc giết hại trẻ sơ sinh sống sót sau khi phá thai ở Vương quốc Anh, trong bối cảnh của việc kiểm tra định kỳ của Vương quốc Anh bởi Ủy ban về Quyền trẻ em.

Theo một số chuyên gia của Liên Hiệp quốc, chống phá thai sẽ là một hình loại tra tấn, vi phạm quyền trẻ em. Lời cáo buộc như vậy quả là tai tiếng; trắng trợn làm suy yếu tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và các nghi vấn về tính lương thiện của một số thành viên nổi bật của Ủy ban. Nó đã được xây dựng gần đây chống lại Tòa Thánh bởi các thành viên của Ủy ban chống tra tấn của Liên Hiệp quốc chống lại giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo đối với sự thiêng liêng của sự sống.

Đầu năm nay, vào tháng 2, một Ủy ban khác của Liên Hiệp quốc, về Quyền trẻ em (CRC), “kêu gọi” Tòa Thánh xem xét lại vị trí của mình về phá thai và sửa đổi Luật Canon để cho phép phá thai. Ủy ban này của Liên Hiệp quốc lấy cớ chống phá thai sẽ vi phạm các quyền của trẻ em, bỏ qua thực tế Công ước về Quyền trẻ em thừa nhận “cần phải có những biện pháp bảo vệ và chăm sóc trẻ em đặc biệt, bao gồm bảo vệ pháp lý phù hợp, trước cũng như sau khi sinh.”

Tòa Thánh trả lời những cáo buộc ấy bằng cách nói rằng mục tiêu của nó thực sự phải là, “ngăn chặn trẻ em khỏi bị tra tấn hoặc bị giết trước khi sinh, như được quy định trong Công ước.” Ủy ban của Liên Hiệp quốc bao gồm các “chuyên gia” do các quốc gia thành viên. Họ thường là các học giả hoặc các nhà hoạt động phi chính phủ (NGO) với một nền chính trị.


Những cáo buộc chống lại phe đối lập đạo đức để phá thai là động thái cuối cùng của một chiến lược dài hạn áp đặt trên các quốc gia, thông qua luật pháp quốc tế và các cơ quan, một “quyền con người đối với việc phá thai,” và kết luận phe đối lập đối với phá thai là một tội ác. Những nhóm vận động phá thai hiện nay rất tích cực vì họ muốn đưa việc phá thai trong “chương trình nghị sự phát triển sau năm 2015,” viện lý do là cải thiện sức khỏe của các bà mẹ trên toàn thế giới. Chương trình nghị sự sau năm 2015 này, thương lượng tại Liên Hợp Quốc, sẽ xác định các mục tiêu ưu tiên phát triển trong nhiều thập kỷ tới. Nó sẽ được hỗ trợ bởi hàng tỷ Mỹ kim, và các chính phủ sẽ phải thực hiện. Vì vậy, vấn đề đe dọa là rất lớn.

Trong những thập kỷ qua, đặc biệt là hội nghị ở Cairo và Bắc Kinh về dân số, phát triển và phụ nữ, lực lượng ủng hộ việc phá thai đã bị ngăn chặn bởi một liên minh các quốc gia, dẫn đầu là Tòa Thánh. Điều này giải thích các hoạt động hiện nay về sự bất ổn và các cuộc tấn công chống lại Giáo Hội Công Giáo trong Liên Hiệp quốc: đó là nhằm mục đích làm suy yếu ảnh hưởng của nó trong các cuộc đàm phán tiếp theo.

Mục tiêu cuối cùng của chiến lược phá thai là để giành chiến thắng trên các lĩnh vực của các giá trị: thực hiện phò sự sống vô đạo đức và đạo đức ủng hộ phá thai, và để bịt miệng vận động phò sự sống. Điều này sẽ là một sự đảo ngược hoàn toàn các giá trị: thật vậy, trong thực tế, phá thai là tra tấn và gây tử vong cho người mẹ. Phá thai, dù hợp pháp hay không, không chỉ giết chết một con người mà còn mang những rủi ro sức khỏe thể chất và tâm lý nghiêm trọng và góp phần vào tỷ lệ tử vong bà mẹ. Các quốc gia hạn chế phá thai có tỷ lệ tử vong bà mẹ thấp hơn so với những quốc gia tạo điều kiện cho việc phá thai.

Ứng phó với những cuộc tấn công, ECLJ, là một tổ chức phi chính phủ có tư cách tư vấn với ECOSOC của Liên Hiệp quốc, đã cực lực lên án phá thai, đặc biệt là phá thai muộn hạn, như một loại hình đặc thù của tra tấn và vi phạm quyền trẻ em.

Vào tháng 3 năm 2014, ECLJ đã đưa ra lời can thiệp và một tuyên bố bằng văn bản (A/HRC/25/NGO/91) trước Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp quốc, tại Geneva, tố cáo việc thực hiện phá thai muộn hạn và giết hại những em bé sống sót.

Sau đó, vào tháng 4 năm 2014, trong một “kháng cáo khẩn,” ECLJ kêu gọi các báo cáo viên đặc biệt của LHQ về tra tấn thực hiện một cuộc điều tra về trẻ em sống sót sau phá thai muộn hạn, và về phương pháp phá thai muộn hạn, đặc biệt là ở Vương quốc Anh và Canada: ở Gia Nã Đại, từ năm 2000 đến 2011, có 622 trẻ sơ sinh sống sót sau khi phá thai; và vào năm 2005, Vương quốc Anh có 66 trường hợp như vậy. ECLJ khẳng định rằng phương pháp phá thai tàn nhẫn muộn hạn cấu thành tra tấn, đặc biệt được gọi là nong ra và rút khỏi - thai nhi vẫn còn sống, được cắt ra và kéo ra khỏi bụng mẹ từng miếng. ECLJ hy vọng báo cáo viên đặc biệt phải hành động.


Hiện nay, ECLJ cũng dẫn đầu một liên minh của NGO tố cáo trước Ủy ban Liên Hiệp quốc về Quyền trẻ em, giết hại trẻ sơ sinh sống sót sau phá thai, trong bối cảnh của việc xem xét định kỳ của Vương quốc Anh. Hiện nay, ủy ban này gửi một báo cáo cho Ủy ban Liên Hiệp quốc về Quyền trẻ em. Ủy ban này nên đặt câu hỏi cho chính phủ Anh về những lời buộc tội của chúng ta và đưa vào việc xem xét cho việc soạn thảo báo cáo chính thức.

ECLJ sẽ tiếp tục ủng hộ cho sự tôn trọng sự sống, cả ở Liên Hiệp quốc và các tổ chức Âu châu, sử dụng tất cả các thủ tục pháp lý có sẵn.

Trong khi có bằng chứng rõ ràng về hàng trăm trường hợp thực sự tra tấn và giết trẻ sơ sinh ở các nước như Anh và Gia Nã Đại, câu hỏi là liệu các cơ quan nhân quyền của Liên Hiệp quốc, chẳng hạn như Ủy ban Liên Hiệp quốc về Quyền trẻ em và chống tra tấn sẽ chứng minh mình có thẩm quyền và đủ độc lập để thực hiện nghĩa vụ của họ. Ngày nay, có một nhu cầu cấp thiết cho họ để chứng minh sự lương thiện của họ.

Jos. Tú Nạc, NMS


Theo thanhlinh.net

Đức Phanxicô, Giáo Hoàng của “Humanae Vitae"

Bài của Sandro Magister


Đó là tông thư ngài chọn làm mẫu mực, bất kể đó là tông thư bị chỉ trích nhiều nhất trong thế kỷ trước. Đức Bergoglio đang tạo ra kỳ vọng có thay đổi trong lãnh vực hôn nhân. Nhưng cũng như đức Phaolô đệ Lục, vào lúc chung cuộc, ngài có thể quyết định “ngược lại với số đông.”

ROME, ngày mồng Một tháng Năm năm 2014 – Bốn vị giáo hoàng cùng một lúc trước con mắt toàn thế giới đã làm nên một cảnh duy nhất. Đó là điều đã xảy ra hôm Chúa Nhật ngày 27 tháng Tư. Hai vị trên thiên đàng, Angelo Giuseppe Roncalli, người Ý và Karol Wojtyla, người Balan. Và hai vị đang tại thế, Jopseph Ratzinger, người Đức, và Jorge Mario Bergoglio, người Achentina. Rất gần nhau, mà cũng rất khác nhau. Vị mục tử, người chiến binh, nhà thần học… Còn vị cuối cùng ? Một bí ẩn. Hơn một năm sau khi được bầu lên, ngài còn cần được người ta giải mã hoàn toàn.

Chắc chắn Giáo hoàng Phanxicô nói một ngôn ngữ mới. Trong các bài giảng ban sáng tại Santa Marta, trong các cuộc phỏng vấn, khi ngài ngỏ lời với đám đông, ngài dùng ngôn ngữ được đơn giản hoá hết sức. Nơi ngài điều được nói ra có ưu thế hơn những gì được viết xuống, dù với cái giá phải trả là bị hiểu lầm. Ngài lấy làm đủ, nếu mọi người hiểu được rằng lương tâm có một sự độc lập bất khả xâm phạm, rằng Giáo Hội không muốn can thiệp vào đời sống thiêng liêng của mỗi người hay Giáo hội không muốn kết án người đồng tính, và rằng việc cải đạo là “chuyện điên khùng.”

Nhiều người Công giáo sống đạo cảm thấy khó chịu về những phát biểu đốp chát thẳng thừng đó của ngài. Nhưng chính nhờ chúng mà sự thành công của ngài ở bên ngoài được bảo đảm. “Extra Eccesiam – Ngoài Giáo hội” đức Phanxicô (*) là một giáo hoàng được lòng công chúng nhất trong lịch sử .

Vậy mà đức Bergoglio chỉ biết mềm dẻo với điều ngài gọi là “lề lối suy nghĩ duy nhất” đang thống trị. có tính cách vô thần và “phóng khoáng,” thứ “thuốc phiện mới của dân chúng.” Cái nhìn của ngài về thế giới là một cái nhìn khải huyền, là một cuộc chiến hoàn vũ chống lại ma quỷ là kẻ thù lớn nhất. Ngài thường xuyên nhắc đến nó, đặc biệt trong cái bài giảng lễ sáng. Ngài không im lặng về nỗ lực ngài chống đối lại sự xuất hiện của những hình thức mới tự cho là gia đình mà không có “nam tính và nữ tính của một người bố và một người mẹ.” Ngài không suy suyển trong việc gọi phá thai là một “tội ác ghê tởm.”

Nhưng ngài lại rất cẩn thận chẳng bao giờ liên kết những tố cáo của mình với luật lệ, với các đạo luật của chính quyền, những phán quyết toà án, các biến cố đang diễn tiến, các chiến dịch vận động ý kiến đang xảy ra hằng ngày nhằm thúc đẩy cái “lề lối suy nghĩ duy nhất” mà ngài rất ghét. Chỉ cần phát biểu nhẹ nhàng về mọi việc, miễn là phát biểu cách trừu tượng, là ngài lấy làm đủ.

Tuy nhiên, đức Phanxicô rất cụ thể, trong các phạm trù khác của thực tại, những phạm trù không tạo ra tranh luận, mà chỉ có thoả hiệp.

Ngài đến đảo Lampedusa, nơi các di dân, người tị nạn, và những kẻ bị lưu đày từ khắp Phi Châu cập bờ, để ngài thốt lên: “Thật đáng xấu hổ!” Rồi ngài mau chóng đến Cassano all’lonio, để lên án mấy tay mafia lặp căn cứ địa ở đó. Rồi đến Campobasso, vị giám mục sở tại là Giancarlo Maria Bregantini, người ngài nhờ viết bài Suy Niệm Chặng Đường Thánh Giá ngày thứ Sáu Tuần Thánh tại Colosseum, đầy tình thương cảm dành cho người nghèo khó, kẻ bị lưu lạc, thất nghiệp. Ngài gọi điện thoại cho Marco Pannella, vị lãnh đạo chính trị chống giáo hội, để bày tỏ sự ủng hộ của mình dành cho chiến dịch đòi hỏi đối xử đúng đắn với các tù nhân.

Nhưng nơi đức Phanxicô bày tỏ phong cách mình ra rõ nhất là tại đền thờ thánh Phêrô hôm 27 tháng Ba, trong thánh lễ ngài cử hành trước hơn 500 giáo sĩ, dân biểu và thượng nghị sĩ. Không một nụ cười, không một lời chào. Và một bài giảng đầy những khiển trách, trong đó từ khoá là “corruption-thối nát.” Một từ trong tự điển của đức Bergoglio nói lên lòng chai dạ đá của tội nhân chìm trong tội, bất cứ là tội gì, ngăn cản đương sự không chấp nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa. Nhưng từ này được hầu hết mọi người, kể cả các nhà chính trị đang có mặt, hiểu theo nghĩa hiện đại là một tội ác mang cùng tên (**).

Trong ý kiến công chúng, không chỉ tại Ý mà ở khắp nơi, thường xung khắc với các nhà chính trị, chính sự táo bạo này của đức Phanxicô gia tăng lòng ngưỡng mộ của công chúng. Những mục tiêu ngài nhắm tới để phóng phi tiêu, cũng chính là những mục tiêu rất nhiều người, ít là trong lời nói, đã sỉ vả. Không thể tưởng tượng ra được rằng ai lại có thể chỉ trích đức giáo hoàng khi ngài lên án mafia hay chiến tranh.

Câu “tôi là ai mà kết án” đã trở thành chìa khoá để miêu tả về triều giáo hoàng này, chắc chắn sẽ áp dụng, như ngài đã nói, vào kẻ đồng tính nhưng có thiện tâm tìm kiếm Thiên Chúa. Nhưng đối với nhiều việc khác, người khác, đức Phanxicô đã kết án và còn kết án nặng lời, đứng về phe, hay chống lại và còn nêu rõ danh tính người ấy.

Ngài đã không giữ miệng lưỡi khi nói chống lại Nunzio Scarano, một đức ông của giáo triều đã bị bắt vì tội kinh tế, nhưng đang chờ phản quyết của toà. Ngài đã buông ra câu nhức nhối sau đây: “Vị ấy chẳng giống thánh Imelda.” (***)

Ngài cũng chẳng giữ im lặng khi đến chuyện phải ủng hộ nhu cầu của công nhân, như ngài đã từng làm hôm thứ Tư sau Phục Sinh, khi ngài đến để bảo vệ bốn ngàn công nhân xưởng thép ở Piombino đang gặp nguy cơ đóng cửa.

Chính với khả năng lèo lái bậc thầy của dòng Tên thế hệ cũ, mà đức Phanxicô chọn lựa và xếp đặt giờ giấc, địa điểm và các trích dẫn cho các nhận định của mình. Các hoạt động của ngài cũng theo cùng một cách. Mọi chuyện đều có thể tìm thấy trong cái khả năng đó, kể cả những điều đối nghịch nhau nhất, chẳng hạn như tại viện IOR, nơi việc tái phục hồi các trương mục được trao cho nhóm nhân viên làm việc tất bật nhưng cao giá của công ty đa quốc gia Promontory, lại đi kèm với việc giữ lại nhóm lãnh đạo của ban quản trị cũ làm việc mù mờ làm thành uỷ ban giám sát. Nhưng khả năng của đức Phanxicô chính là việc điều chỉnh các âm thanh đặt bên nhau để thành một thứ âm nhạc làm mê lòng, luôn luôn được giữ ở tình trạng bấp bênh, chờ đợi một kết thúc cứ chần chừ không đến.

Cuộc phiêu lưu của thượng hội đồng giám mục sắp tới, được triệu tập để bàn về chủ đề gia đình, hoàn toàn tương hợp với lối xếp đặt này.

Về vấn đề đã trở thành đề mục chính của cuộc tranh luận: viêc chịu lễ của người ly dị và tái hôn, đức Phanxicô thay đổi liên tục từ mềm dẻo sang cứng rắn. Khi vài giám mục Đức hàng đầu đưa ra những tín hiệu phá rào cản nhằm thuận lợi cho việc được chịu lễ, đức giáo hoàng lại sai một giám mục Đức khác, Gerhard Ludwig Müller, bộ trưởng bộ giáo lý đức tin, đưa ra một mệnh lệnh nghiêm khắc trên tờ “L’Osservatore Romano” buộc ngưng lại.

Nhưng rồi ngài lại đưa ra một vị người Đức khác, hồng y và thần học gia Walter Kasper, người đã tranh đấu suốt ba mươi năm để mong tháo gỡ luật cấm rước lễ, làm diễn giả duy nhất trong hội nghị, được triệu tập để bàn về vấn đề ấy. Và đức giáo hoàng đứng về phe vị này, nồng nhiệt khen ngợi Kasper, cả sau khi các hồng y khác lên tiếng chống lại Kasper.

Đức Bergoglio còn áp dụng thái độ đứng về cả hai phe cho chính mình.

Ngài thích nhắc đi nhắc lại lòng trung thành của mình vào giáo lý ngàn năm, trong trường hợp này là tính bất khả phân ly của hôn nhân: “Ai cũng biết quan điểm này của Giáo hội, và tôi là một người con của Giáo hội.”

Nhưng rồi dường như ngài lại tách mình ra khỏi lập trường này, khi ngài hành xử như một thầy thuốc chữa tâm hồn từng cá nhân, trong cái “bệnh viện dã chiến” tả tơi này, đối với ngài, là thế giới, đầy những thương binh cần gấp rút cứu chữa. Như khi ngài gọi điện thoại cho một phụ nữ ở Achentina, sau khi ly dị đã tái hôn bên dân sự, đã bị quẫn trí vì bị cấm không được lãnh nhận Thánh Thể, để bảo bà cứ chịu lễ “đừng e ngại chi” và “đi sang giáo xứ khác mà chịu” nếu cha xứ của bà không trao Mình Thánh cho bà.

Phát ngôn viên của Vatican, cha Federico Lombardi, đã phải minh định: Từ cuộc nói chuyện qua điện thoại, “không nên rút ra những kết luận liên quan đến giáo huấn của Giáo hội.” Nhưng việc này không thể làm giảm bớt sức chấn động của chuyện ấy trên công luận. Ảnh hưởng toàn diện nơi chiến thuật của đức Phanxicô là tạo ra một thúc đẩy thay đổi càng ngày càng gia tăng. Thúc đẩy này sẽ càng mạnh hơn vào lúc thượng hội đồng nhóm họp vào tháng Mười, với công tác gom góp thêm các đề nghị bổ túc. Các đề nghị này sẽ được nghiên cứu một năm sau đó, trong kỳ họp thứ hai của thượng hội đồng. Kỳ họp này sẽ tổng kết các đề nghị và đưa ra các ý kiến để đức giáo hoàng có giải pháp. Bởi vì là đức Phanxicô, và chỉ mình ngài, là người có tiếng nói cuối cùng, và là người quyết định chấp thuận cho người ly dị và tái hôn được rước lễ hay không, khi nào và cách nào.

Vậy quyết định sẽ có vào cuối năm 2015 hay vào đầu năm sau đó, chứ không sớm hơn. Dưới áp lực nặng nề của công luận, có lẽ vào lúc đó, dường như sẽ nhất trí chỉ là một lời yêu cầu cho phép.

Trước kia, vào thập niên 1960, cũng có một áp lực mạnh mẽ tương tự yêu cầu thay đổi, khi đức giáo hoàng phải quyết định về tính hợp pháp của việc dùng thuốc ngừa thai, với nhiều thần học gia, giám mục và hồng y đứng về phe ủng hộ. Nhưng vào năm 1968, đức Phaolô đệ Lục đã quyết định ngược lại, với tông thư “Humanae Vitae.” Một tông thư đã gặp phải những chống đối cay đắng từ toàn bộ giám mục đoàn và bất tuân phục của vô số giáo dân. Nhưng ngày nay đức Phanxicô đã cho biết ngài muốn coi thông điệp đó làm cái khung tiêu chuẩn cho mình – trong điểm này, ngài đã gây ra bất ngờ như mọi lần khác.

Thực vậy, chúng ta cũng nên đọc lại cẩn thận những gì đức Phanxicô đã nói về tông thư này, trong cuộc phỏng vấn hôm mồng 5 tháng Ba với tờ “Corriere della Sera”:

“Tất cả tuỳ thuộc vào cách người ta cắt nghĩa “Humanae Vitae.” Đến phút cuối, chính đức Phaolô đệ Lục thúc dục các cha giải tội phải rất khoan dung và để tâm đến các trường hợp cụ thể. Nhưng thiên tài của ngài mang tính tiên tri. Ngài can đảm có thái độ chống lại đa số, để bảo vệ kỷ luật luân lý, để thi hành vai trò một ngăn chặn trong văn hoá, chống lại thuyết Malthius cả tân thời lẫn tương lai. Vấn đề không phải là thay đổi giáo lý, mà là đào sâu và bảo đảm sao cho việc chăm lo mục vụ lưu ý đến từng trường hợp cá nhân và những điều cá nhân ấy có thể làm.”

Bí ẩn Phanxicô hoàn toàn nằm trong lời ca tụng tuyệt vời dành cho “Humanae Vitae.” Vì từ “vị giáo hoàng đến từ miền tận cùng thế giới” này, người ta thật sự có thể mong chờ bất cứ chuyện gì, cả chuyện rước lễ của người ly dị và tái hôn, ngài có thể có quyết định chung cuộc “ngược lại với đa số”: một quyết định tái xác nhận sự nguyên vẹn của giáo lý về hôn nhân bất khả phân ly, mặc dù được châm chước do lòng khoan dung của các mục tử chăm sóc linh hồn, khi họ phải đối diện với những hoàn cảnh cụ thể.

Khi đức Bergoglio tuyên bố đức Gioan Phaolô đệ Nhị là thánh hôm 27 tháng Tư, ngài biết rất rõ điều đức giáo hoàng Biển Đức về hưu đã phát biểu về vị tiền nhiệm cao cả của mình vài tuần trước đó:

“Đức Gioan Phaolô đệ Nhị không mong được ca tụng, ngài cũng chẳng tìm ngang ngó dọc xem coi người ta chấp nhận quyết định của mình như thế nào. Ngài hành động dựa trên căn bản đức tin của mình và những gì mình xác tín, và ngài cũng sẵn sàng để chiụ đựng tấn công. Lòng can đảm vì sự thật là một trong những tiêu chuẩn chính của thánh thiện.”

Vốn là chuyên gia trong việc kiến tạo dư luận của công chúng, giáo hoàng Phanxicô không phải là loại người để cho mình trở thành nạn nhân của công luận.
___________

Bài phê bình này đã được công bố trên tờ “L’Espresso” số 18 năm 2014, trên kệ báo ngày mồng Một tháng Năm.
__________

Tông thư Humane Vitae gây nhiều tranh cãi của đức Phalô đệ Lục công bố ngày 25 tháng Bẩy năm 1968, mà đức Phanxicô chọn làm mẫu mực cho mình:

http://www.vatican.va/holy_father/paul_vi/encyclicals/documents/hf_p-vi_enc_25071968_humanae-vitae_en.html

Bản dịch tông thư:



Nguồn bản dịch bài báo: ducmesaobien.net

"Về Trời và Đất" - ĐHY Bergoglio

Không như vị tiền nhiệm, tư tưởng và ý kiến của Đức Phanxicô ít được ai ở bên ngoài tổng giáo phận Buenos Aires biết đến, vì trước khi được bầu làm giáo hoàng, ngài viết rất ít và cũng chỉ xuất hiện trong một số cuộc phỏng vấn của giới truyền thông. Nên khi dịch bản tiếng Anh cuốn “Về Trời và Đất” xuất hiện gần đây, nó đã được nồng nhiệt chào đón. Đây là một cuộc đối thoại giữa Đức Hồng Y Bergoglio và giáo sĩ Do Thái Rabbi Abraham Skorka. Nhà xuất bản Image Books của Hoa Kỳ phát hành tác phẩm này với phụ đề “Đức Giáo Hoàng Phanxicô Nói Về Đức Tin, Gia Đình và Giáo Hội Trong Thế Kỷ Hai Mươi Mốt”. Như thế, trong tác phẩm này, người ta sẽ được biết tư tưởng của vị giáo hoàng tương lai về khá nhiều vấn đề, từ phá thai, hôn nhân đồng tính tới an tử và chủ nghĩa tư bản.


Đức HY Bergoglio khởi đầu bằng cách nhấn mạnh tới tầm quan trọng của đối thoại, điều mà theo ngài “phát sinh từ thái độ tôn trọng người khác, từ xác tín rằng người khác có điều gì đó tốt đẹp để nói ra”. Sau đó ngài và vị giáo sĩ Do Thái khởi sự một cuộc thảo luận lịch sự và thẳng thắn, mỗi người đưa ra tầm nhìn riêng.

Được chia thành 29 chương tùy theo chủ đề, nhưng chủ đề thuộc loại sớm liên quan tới Ma Qủy. Một nét được nhiều người lưu ý và ca ngợi Đức Phanxicô là ngài sẵn sàng nêu đích danh việc làm của ma qủy trong các bài giảng của ngài, và trong Về Trời Và Đất” ngài đưa ra lời giải thích.

Ngài nói: “Có lẽ thành tựu vĩ đại nhất của hắn trong thời đại ngày nay là làm chúng ta tin rằng hắn không hề hiện hữu, và mọi sự đều có thể được điều chỉnh trên bình diện hoàn toàn nhân bản”. Nhưng theo ngài, “Cuộc sống con người trên mặt đất là chiến trận; Gióp nói cho ta biết điều đó, với ý nghĩa: con người không ngừng bị thử thách; nghĩa là bị thử thách để vượt thắng một tình thế và vượt thắng chính mình”.

Về chủ đề ấu dâm, Đức HY Bergoglio rất thẳng thừng, hoàn toàn chống đối việc hoán chuyển các linh mục phạm tội từ giáo xứ này sang giáo xứ khác (ngài cho đó là việc ngu xuẩn) và ca ngợi sự “can đảm và thẳng thừng” của Đức Bênêđíctô XVI khi cho áp dụng chính sách tuyệt đối không dung túng đối với loại tội ác này.

Trong cuốn sách, Đức HY Bergoglio thường xuyên nhấn mạnh tới tầm quan trọng của ý chí tự do và chống đối mọi hình thức giáo sĩ trị và chủ nghĩa quá khích. Linh mục không bao giờ được áp đặt đức tin mà chỉ được trình bày và bảo vệ giáo huấn của Giáo Hội một cách minh bạch. Ngài bảo: “Linh mục nào có thái độ chỉ biết hống hách, giống các nhóm quá khích, thực sự đã vô hiệu hóa và làm suy yếu những người đang tìm kiếm Thiên Chúa”. Ngài nhấn mạnh “Trong vai trò thầy dạy, linh mục phải huấn giáo, trình bày sự thật như đã được mạc khải, và đồng hành”.

Không đi vào cụ thể, ngài nhắc tới “những phe phái duy phục chế” (restorationist) hiện đang tiếp tục nhân thừa mà ngài coi là cực đoan. Ngài cho rằng: đối với người trẻ, cái lòng đạo đức cứng ngắc này khi bảo họ phải làm điều này hay phải làm điều nọ, sẽ dẫn họ tới việc chuẩn bị nghèo nàn cho cuộc sống, thiếu khả năng đương đầu với khủng hoảng và các thiếu sót nơi người khác. Ngài cho rằng : kết quả nó sẽ ngăn không cho người ta nhận biết và thấu hiểu lòng thương xót của Thiên Chúa. “Cái thứ đạo đức này tự hóa trang bằng những tín lý nhằm đem lại công chính hóa nhưng thực tế tước đoạt tự do của người ta và không để họ trưởng thành như những con người. Nhiều người kết cục với lối sống hai mặt”.

Ngài tiếp tục cho rằng chủ nghĩa quá khích ấy là một thứ thuốc phiện vì nó làm con người xa lánh Thiên Chúa hằng sống và rút gọn Đấng Thần Linh chỉ “còn là một hữu thể mà bạn có thể thao túng bằng pha chế”. Nó là một hình thức của “mua bán tiện nghi, phúc lợi, may mắn và hạnh phúc, nhưng để Thiên Chúa hằng sống lại phía sau, Đấng luôn đồng hành với bạn”.

Về an tử, vị giáo hoàng tương lai nói: ngài tin rằng một thứ “an tử trá hình” đang diễn ra. “hệ thống an sinh xã hội của ta trả đến một mức chữa trị nào đó rồi bảo ‘xin Chúa giúp đỡ bạn’. Người già không được chăm sóc như họ đáng được; thay vào đó, bị đối xử như những thứ vất đi”.

Nói tới phá thai, Đức HY Bergoglio để tôn giáo qua một bên để nhấn mạnh rằng theo quan điểm khoa học, hệ di truyền của một con người hiện hữu ngay từ lúc được thụ thai; nó làm họ thành một con người nhân bản từ lúc đó. “Phá thai là sát hại một con người không thể tự bảo vệ mình được”.

Ngài tiếp tục thảo luận với giáo sĩ Skorka về vấn đề hôn nhân đồng tính, loại hôn nhân bị ngài mô tả là “phản giá trị” và “thoái hóa về nhân học”. Nó làm suy yếu định chế hôn nhân, một định chế từng hiện hữu hàng ngàn năm nay và được “rèn đúc theo bản nhiên và nhân học”.

Nhưng một lần nữa, Đức Hồng Y nhắc đến tầm quan trọng của ý chí tự do, bao gồm cả tự do phạm tội. Dù linh mục có quyền đưa ra ý kiến nếu điều này phục vụ con người, nhưng ngài “không có quyền áp đặt bất cứ điều gì lên đời sống riêng của bất cứ ai. Nếu khi tạo dựng, Thiên Chúa mạnh dạn cho ta được tự do, thì tôi là ai mà dám làm ngược lại?”. Đức Hồng Y cho rằng “người ta phải nói thật rõ ràng về các giá trị, các giới hạn, các giới răn, nhưng xách nhiễu về thiêng liêng và mục vụ là điều không được phép”.

Về lòng khiêm nhường, Đức HY Bergoglio cho rằng: nó là nhân đức “bảo đảm rằng Thiên Chúa đang ở đấy”. Còn những ai “tự lấy mình làm đủ, có câu trả lời cho mọi vấn nạn, thì đó là bắng chứng Thiên Chúa không hiện diện với họ”. Đức Hồng Y nói thêm: tự lấy mình làm đủ “rất hiển nhiên nơi mọi tiên tri giả, nơi các lãnh tụ tôn giáo giả dạng, chuyên lợi dụng tôn giáo để phục vụ cái tôi riêng của mình”.

Khi thảo luận tới chính trị, vị giáo hoàng tương lai cho hay truyền giảng các giá trị nhân bản và tôn giáo luôn có một hậu quả chính trị “bất luận thích hay không”. Tuy nhiên, thách thức nằm ở chỗ đề xuất giá trị “mà không pha mình vào” một cách “chính trị phe phái”. Ngài phê phán báo chí đã rút gọn điều ngài nói vào “bất cứ điều gì thuận lợi”. Ngài bảo: “Ngày nay, từ hai hay ba sự kiện, báo chí gọt dũa ra một điều khác hẳn: họ thông tri sai lạc cho ta”.

Xa hơn chút nữa, ngài cho rằng các nhà lãnh đạo tôn giáo có nghĩa vụ phải bênh vực các giá trị chứ không giảng dạy “chống điều này điều nọ”. Ngài bảo “chúng ta không giảng dạy chống lại bất cứ ai. Chúng ta nhắc tới các gía trị đang lâm nguy và cần được bảo vệ”. Một lần nữa, ngài chỉ trích truyền thông, giới mà ngài cho là “đôi lúc bị nhiễm chứng viêm gan” vì “mầu vàng vàng của họ” và vì khuynh hướng hay “nhẩy bổ ra mà nói ‘phải khắt khe lên án điều này điều nọ’”.

Đức HY Bergoglio đặc biệt gay gắt khi thảo luận về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản. Ngài cho rằng chủ nghĩa tư bản “có cái sa đọa tâm linh của nó” vì đã tìm cách khống chế tôn giáo để nó đừng làm phiền mình thái quá, do đó đã ban phát cho tôn giáo một “chút siêu việt nào đó, nhưng không nhiều lắm”. Sự sa đọa tâm linh của chủ nghĩa cộng sản là bác bỏ thể siêu việt vì tin rằng thể này “làm tê liệt con người”, không cho con người tiến tới. Ngài cho rằng cả hai hình thức sa đọa ấy đều là biểu hiện của tính thế gian.

Về việc săn sóc người nghèo, Đức HY Bergoglio phân biệt giữa việc làm bác ái chân chính và các hoạt động xã hội làm yên lòng lương tâm, được thực hiện nhằm làm cho người làm “cảm thấy an ổn về chính mình”. Nhưng theo ngài, tình yêu “đòi con người phải ra khỏi chính họ, thực sự hiến thân cho người khác”. Ngài đơn cử trường hợp cơ quan bác ái của Giáo Hội bán đấu giá chiếc đồng hồ Rolex. Ngài bảo “Quả là một điều xấu hổ và lạm dụng bác ái. Vì đã đi kiếm một người dùng chiếc đồng hồ này để khoe mẽ hòng nuôi sống người nghèo”.

Theo ngài, điều người nghèo cần hơn cả là một việc làm đem lại phẩm giá cho họ, và không được nhìn họ một cách khinh bỉ. Ngài bảo “phải nhìn thẳng vào mắt họ” và ngài lặp đi lặp lại câu này. Điều nguy hiểm nhất khi giúp đỡ người nghèo là sa vào thái độ “cha chú che chở”, một thái độ không dành chỗ để họ tăng trưởng.

Một đặc điểm được Đức Phanxicô ca ngợi hơn cả là sự hiền lành (meekness), nhưng ngài nhấn mạnh hiền lành không phải là yếu đuối. Ngài cho rằng “một nhà lãnh đạo tôn giáo có thể rất mạnh mẽ, cương quyết, nhưng không gây hấn” và từ ngày được bầu làm giáo hoàng, ngài thường cho rằng sức mạnh thực sự của một nhà lãnh đạo tôn giáo phát xuất từ chính sự phục vụ của họ.

Ngài cho thấy một nét đầy hy vọng khi cho rằng việc đi tìm Thiên Chúa theo kiểu tôn giáo nơi phần đông người ta vẫn “tiếp tục được đẩy mạnh dù phần nào lệch ra ngoài các cơ cấu định chế”. Ngài cho hay “phúc âm hóa là việc cần thiết, nhưng chủ nghĩa duy cải đạo (proselytism) thì không”. Ngày nay, việc cải đạo này “cám ơn Chúa đã bị xóa khỏi tự điển mục vụ”. Trích dẫn câu nói của Đức Bênêđíctô XVI “Giáo Hội là một đề xuất được tiếp nhận nhờ lôi cuốn chứ không nhờ chủ nghĩa duy cải đạo”, Đức HY Bergoglio cho rằng đức tin là “sự lôi cuốn nhờ chứng tá”.

Còn nhiều điều nữa trong sách, như các thảo luận về khoa học, hoàn cầu hóa, ly dị, giáo dục, Nạn Diệt Chủng và phụ nữ. Các đàm đạo về từng chủ đề phần lớn khá ngắn, chỉ cho ta nếm tạm mùi vị tư duy của vị giáo hoàng tương lai. Sau đây, xin trích dẫn một trích đoạn của cuốn sách nói về việc cảm nghiệm Thiên Chúa:



Cảm nghiệm Thiên Chúa

Giáo Sĩ Skorka: Đã nhiều năm kể từ ngày chúng ta gặp nhau lần đầu và một sợi dây thân ái đã được tạo nên giữa chúng ta. Khi nghiên cứu bộ Talmud, tôi thấy có câu nói rằng tình bằng hữu là ăn chung và dành thì giờ cho nhau, nhưng cuối cùng sách nhấn mạnh rằng dấu chỉ tình bạn chân chính là khả năng bộc lộ những gì trong trái tim mình cho người kia. Đó là điều đã xẩy ra cho hai chúng ta trong nhiều năm qua. Tôi tin rằng điều quan trọng nhất đem chúng ta lại với nhau chắc chắn đã là và vẫn còn là Thiên Chúa, Đấng khiến cho các nẻo đường của chúng ta gặp nhau và cho phép chúng ta mở lòng cho nhau. Trong các đàm đạo thường xuyên của chúng ta, dù đã đề cập tới nhiều chủ đề rồi, nhưng chưa bao giờ chúng ta minh nhiên nói tới Thiên Chúa. Dĩ nhiên, chúng ta luôn hiểu Người hiện hữu. Điều tốt đẹp là khởi đầu cuộc trao đổi mà chúng ta muốn để lại làm bằng chứng cho cuộc đối thoại của chúng ta, bằng cách thảo luận về Đấng hết sức quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta.

Đức HY Bergoglio: Chữ “nẻo đường” quả là tuyệt diệu. Trong cảm nghiệm bản thân của tôi với Thiên Chúa, tôi chẳng làm gì được nếu không có nẻo đường. Tôi muốn nói rằng người ta gặp gỡ Thiên Chúa bằng cách bước đi, bằng cách chuyển động, bằng cách đi tìm Người và để mình được Người tìm ra. Đó chính là hai nẻo đường gặp nhau. Một đàng, là nẻo đường ta đi tìm Người, được thúc đẩy bởi khuynh hướng bẩm sinh phát xuất từ trái tim; và sau đó, khi đã gặp nhau rồi, ta hiểu ra rằng Người là Đấng đã đi tìm ta từ lúc ban đầu. Cảm nghiệm tôn giáo sơ khởi chính là cảm nghiệm bước đi: " hãy bước tới mảnh đất Ta sắp ban cho ngươi" (St 12:1). Đây là lời hứa mà Thiên Chúa đã làm với Ápraham. Trong lời hứa ấy, trong việc bước tới này, một liên minh đã được thiết lập và được củng cố theo thời gian. Chính vì vậy, tôi cho rằng cảm nghiệm của tôi về Thiên Chúa xẩy ra dọc theo một nẻo đường, cả trong việc tôi đi tìm lẫn trong việc tôi để mình được tìm thấy, dù cho đó là những nẻo đường đa dạng, của đau đớn, của hân hoan, của ánh sáng hay của bóng tối.

Giáo Sĩ Skorka: Điều ngài vừa nói khiến tôi nhớ tới một số câu trong Thánh Kinh. Thí dụ lúc Chúa bảo Ápraham: “hãy bước đi trước mặt ta và đừng mắc lỗi lầm” (St 17:1). Hay lúc muốn giải thích cho dân Do Thái điều Thiên Chúa muốn nơi họ, tiên tri Mika nói rằng “hãy thực hiện công lý và yêu điều thiện, và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của các ngươi” (Mk 6:8). Dĩ nhiên, cảm nhận Thiên Chúa là điều năng động, nói theo kiểu chúng ta từng được học trong ngành khoa học căn bản chung của chúng ta (Giáo Sĩ Skorka có bằng tiến sĩ hóa học, còn Đức HY Bergoglio có bằng cao học về ngành này). Tuy nhiên, ngài nghĩ chúng ta có thể nói gì với con người thời nay khi thấy ý niệm Thiên Chúa quá bị tả tơi, phàm tục hóa và chẳng còn mấy quan trọng?

Đức HY Bergoglio: Điều phải nói với mọi người là hãy nhìn vào nội tâm của chính họ. Sao lãng là một gẫy đổ bên trong. Nó sẽ không bao giờ dẫn người ta tới chỗ gặp gỡ chính họ vì nó ngăn cản không cho họ nhìn vào tấm gương của chính tâm hồn họ. Tịnh tâm là bước đầu. Chính ở đó, cuộc đối thoại mới có thể bắt đầu. Đôi lúc, họ tin mình có câu trả lời duy nhất, nhưng không phải như thế. Tôi muốn mời con người thời nay tìm cảm nghiệm của việc bước vào cõi thân mật trong trái tim họ hòng biết được cảm nghiệm và khuôn mặt Thiên Chúa. Chính vì thế, tôi thích điều Gióp nói sau khi thấy cảm nghiệm khó chịu và các cuộc đàm đạo không giúp ích gì cho ông: “Con nghe lời người ta đồn đãi về Ngài, còn bây giờ, mắt con đã được thấy Người” (Gióp 42:5). Điều tôi nói với người ta không phải là biết Thiên Chúa chỉ bằng cách nghe mà thôi. Thiên Chúa Hằng Sống là Đấng các bạn có thể nhìn thấy bằng con mắt tâm hồn của các bạn.

Giáo Sĩ Skorka: Sách Gióp dạy chúng ta một bài học lớn vì, nói cho vắn tắt, nó cho rằng ta không bao giờ biết được cách Thiên Chúa tự tỏ mình ra qua các hoàn cảnh đặc thù. Gióp, một người công chính, một người chính trực, muốn biết tại sao ông mất hết mọi sự, thậm chí cả sức khỏe của mình. Các bằng hữu bảo ông rằng Thiên Chúa trừng phạt vì tội lỗi ông. Ông trả lời rằng cho dù ông có phạm tội, thì cũng đâu có đến nỗi. Gióp chỉ được an ủi khi Thiên Chúa hiện ra với ông. Các câu hỏi của ông không được giải đáp, nhưng việc cảm nhận sự hiện hữu của Người sẽ ở lại mãi trong ông. Trong câu truyện này, chúng ta có thể tìm được một số điều có thể lên khuôn nhận thức bản thân của tôi về Thiên Chúa. Thứ nhất, bằng hữu của Gióp tỏ ra ngạo mạn và vô lý khi chấp nhận lý thuyết cho rằng “mày phạm tội nên Thiên Chúa trừng phạt mày”, một lý thuyết biến Thiên Chúa thành một thứ máy vi tính chuyên tính toán phần thưởng hay hình phạt. Ở cuối câu truyện, Thiên Chúa bảo Gióp, kẻ từng trách móc các bất công của Đấng Tạo ra mình, rằng ông nên cầu bầu và cầu nguyện cho các bằng hữu của ông, vì họ đã nói sai lầm về Người (xem Gióp 42:7-8). Dưới con mắt Thiên Chúa, những kẻ lớn tiếng kêu than trong đau khổ, để cầu xin công lý của trời cao luôn làm Người hài lòng. Những kẻ nằng nặc duy trì quan điểm quá đơn giản (simplistic) về bản chất Thiên Chúa luôn bị Người ghét bỏ. Theo hiểu biết của tôi, Thiên Chúa tự tỏ mình Người cho chúng ta một cách rất tế vi. Các đau khổi hiện nay của chúng ta có thể là lời giải đáp cho người khác trong tương lai. Hoặc, có lẽ chúng ta là lời giải đáp cho một điều gì đó trong quá khứ. Trong Do Thái Giáo, Thiên Chúa được tôn kính qua việc chúng tôi tuân giữ các giới răn được Người mạc khải. Như ngài đã nhắc đến, mỗi con người và mỗi thế hệ phải tìm ra nẻo đường trên đó họ có thể tìm kiếm và cảm nhận được sự hiện hữu của Người.

Đức HY Bergoglio: Đúng vậy. Chúng ta tiếp nhận sáng thế trong tay như một hồng phúc. Thiên Chúa ban nó cho chúng ta, nhưng đồng thời, Người trao cho ta một trách vụ: là chúng ta phải khuất phục Trái Đất. Đây là hình thức đầu tiên của vô-văn hóa: điều con người tiếp nhận được, tức vật chất thô sơ phải được khuất phục để biến nó thành như văn hóa, cây gỗ phải biến thành chiếc bàn. Nhưng có lúc, con người đi quá xa trong trách vụ này; họ trở nên quá nhiệt thành và mất hết lòng kính trọng đối với thiên nhiên. Và thế là có các vấn đề sinh thái, như hâm nóng hoàn cầu, vốn là hình thức mới của vô-văn hóa. Công trình của con người trước Thiên Chúa và trước chính họ phải duy trì cho được thế quân bình thường hằng giữa hồng phúc và trách vụ. Khi con người chỉ duy trì hồng phúc mà không chịu làm việc, họ không chu toàn sứ mệnh và mãi mãi sơ khai; khi họ trở nên quá nhiệt thành với việc làm của mình, họ quên khuấy mất hồng phúc để tạo ra một nền đạo đức duy xây dựng: họ nghĩ rằng mọi sự đều là thành quả lao công của họ và không hề có hồng phúc gì cả. Đó là điều tôi gọi là hội chứng Babel.

Vũ Văn An

Theo VietCatholic