Tóm lược Tông Thư hậu Năm Thánh của Đức Thánh Cha Phanxicô

VATICAN. Sáng 21-11-2016, Tông thư hậu Năm Thánh của ĐTC Phanxicô đã được giới thiệu trong cuộc họp báo ở Roma, qua đó ngài mời gọi Giáo Hội tiếp tục sống và thực hành tinh thần của Năm Thánh Lòng Thương xót.


Tông thư, được ĐTC ký vào cuối thánh lễ bế mạc Năm Thánh tại Quảng trường Thánh Phêrô chúa nhật 20-11-2016, và ngài trao tượng trưng cho các thành phần Dân Chúa.

Đức TGM Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng, đã giới thiệu với giới báo chí Tông thư mới của ĐTC gồm 22 đoạn, trong đó Người đề cao tầm quan trọng của lòng thương xót và phác họa những lãnh vực cần đặc biệt thực thi lòng thương xót.

ĐTC cũng đưa ra những quyết định cụ thể như: ban năng quyền cho tất cả các LM được giải các tội vạ phá thai, cho các LM thuộc huynh đoàn thánh Piô 10 được giải tội cho các tín hữu thành sự và hữu hiệu, mặc dù Huynh đoàn này chưa hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo. Ngoài ra, các thừa sai lòng thương xót sẽ tiếp tục sứ mạng đã nhận lãnh trong Năm Thánh và Hội đồng Tòa thánh tái truyền giảng Tin Mừng sẽ đảm trách theo dõi các linh mục này. Sau cùng ĐTC ấn định Ngày thế giới người nghèo sẽ được cử hành hàng năm vào chúa nhật thứ 33 thường niên.

Tựa đề Tông Thư

Tông thư mang tựa đề ”Misericordia và misera” là hai từ được thánh Augustino dùng để kể lại cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với người phụ nữ ngoại tình (Xc Ga 8,1-11) [in Joh 33,5). Thánh nhân không thể tìm được thành ngữ nào đẹp và phù hợp hơn từ đó để giúp hiểu mầu niềm tình thương của Thiên Chúa khi gặp người tội lỗi. Thánh Augustino viết: ”Chỉ còn lại hai: người phụ nữ lầm than và lòng thương xót”.

ĐTC chú giải đoạn Tin Mừng kể lại sự tích Chúa Giêsu tha thứ cho người phụ nữ ngoại tình, thay vì để những kẻ cáo buộc thi hành luật và ném đá người phụ nữ ấy. ”Nơi trung tâm không phải là luật và công lý pháp luật, nhưng là tình yêu của Thiên Chúa, Đấng biết đọc thấy trong con tim của mỗi người, để hiểu ước muốn thầm kín nhất và tình yêu ấy phải chiếm chỗ tối thượng trên mọi sự” (n.1). Trong một đoạn Phúc Âm khác kể lại người phụ nữ tội lỗi xức thuốc thơm cho chân Chúa Giêsu và lấy nước mắt mình thấm chân Chúa và lau khô bằng tóc của bà (Xc Lc 7,36-50). Trước phản ứng của người biệt phái lấy làm gương mù, Chúa nói: ”Tội lỗi của bà tuy nhiều, nhưng đã được tha. Trái lại người yêu mến ít thì được tha ít” (v.47). Tha thứ là dấu chỉ rõ ràng nhất của tình yêu Chúa Cha mà Chúa Giêsu đã muốn mạc khải trong suốt cuộc đời của ngài. Không có trang Phúc Âm nào có thể tránh khỏi mệnh lệnh yêu thương đến độ tha thứ.

ĐTC nhận xét rằng ”Chúng ta đã cử hành một Năm khẩn trương, trong đó ân phúc thương xót được ban dồi dào cho chúng ta. Như một làn gió lành mạnh mẽ, lòng nhân từ và thương xót của Chúa đã đổ tràn trên toàn thế giới.” (4).

Và sau khi mời gọi các tín hữu cảm tạ Thiên Chúa về những hồng ân ấy, ĐTC viết tiếp: ”Giờ đây, Năm Thánh đã kết thúc, đây là lúc nhìn về đằng trước và hiểu xem làm thế nào để tiếp tục cảm nghiệm sự phong phú của lòng Chúa thương xót, trong niềm trung thành và hăng say. Các cộng đoàn của chúng ta có thể tiếp tục sinh động và năng nổ trong công trình tái truyền giảng Tin Mừng tùy theo mức độ ”sự hoán cải mục vụ” mà chúng ta được kêu gọi sống thực, được uốn nắn hằng ngày thế nào nhờ sức mạnh đổi mới của lòng thương xót. Chúng ta đừng giới hạn hoạt động của lòng thương xót; đừng làm cho Thánh Linh sầu muộn, Đấng luôn chỉ dẫn những con đường mới phải theo để mang Tin Mừng cứu độ cho tất cả mọi người”.

Các lãnh vực thực thi lòng thương xót

Sau tiền đề trên đây, ĐTC lần lượt nhắc đến các lãnh vực mà Giáo Hội có thể cử hành và thực thi lòng thương xót: trước tiên trong việc cử hành Thánh Thể và đời sống bí tích, rồi đến việc lắng nghe Lời Chúa. Trong vấn đề này, bài giảng có một tầm quan trọng đặc biệt. ĐTC nhắn nhủ các linh mục chuẩn bị kỹ lưỡng và chăm sóc bài giảng. Ngài viết: ”Bài giảng càng mang lại thành quả, nếu linh mục càng cảm nghiệm nơi mình lòng thương xót của Chúa.. Vì thế, sống lòng thương xót chính là con đường tốt nhất để biến lòng thương xót thành một lời loan báo đích thực về sự án ủi và hoán cải trong đời sống mục vụ. Bài giảng cũng như việc huấn giáo, luôn luôn cần được nâng đỡ nhờ con tim sinh động này của đời sống Kitô”. (6).

Tiếp đến là Kinh Thánh, là một trình thuật dài về những kỳ công của lòng Chúa thương xót. Mỗi trang Kinh thánh mang dấu vết tình thương của Chúa Cha, Đấng đã muốn ghi những dấu chỉ tình thương của ngài vào vũ trụ ngay từ khi mới tạo dựng”. Đi kèm với Kinh Thánh là lectio divina, đọc và nguyện gẫm Lời Chúa về những đề tài lòng thương xót, giúp động chạm cụ thể về sự phong phú của các văn bản sách thánh, được đọc dới ánh sáng toàn thể truyền thống linh đạo của Giáo Hội, nhất thiết đưa tới những cử chỉ và hành động bác ái cụ thể” (8).

Các thừa sai lòng thương xót

ĐTC đặc biệt đề cao bí tích hòa giải trong việc sống và thực hành lòng thương xót, và ngài nhắc đến kinh nghiệm về các Thừa Sai lòng thương xót trong Năm Thánh đặc biệt vừa qua. Ngài viết: ”Tôi nhận được bao nhiêu chứng từ về niềm vui về cuộc gặp gỡ được đổi mới với Chúa trong bí tích giải tội. Chúng ta đừng đánh mất cơ hội sống đức tin kể cả như một kinh nghiệm về sự hòa giải.. Tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với mỗi thừa sai lòng thương xót vì việc phục vụ quí giá này để làm cho ơn tha thứ được hữu hiệu. Tuy nhiên, thừa tác vụ này không kết thúc với việc đóng cửa Năm Thánh. Tôi muốn sứ vụ ấy còn được tiếp tục cho đến khi tôi định liệu cách khác, như dấu chỉ cụ thể chứng tỏ ơn Năm Thánh được tiếp tục sinh động và hữu hiệu ở các nơi trên thé giới. Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng có nhiệm vụ theo dõi các Thừa sai lòng thương xót trong thời kỳ này, như một biểu lộ trực tiếp sự quan tâm và gần gũi của tôi, cũng như tìm ra những hình thức thích hợp nhất để thực thi sứ vụ quí giá này.”

Nhắc nhở các linh mục giải tội

ĐTC nhắn nhủ các linh mục chuẩn bị kỹ lưỡng sứ vụ giải tội và ngài khẳng định rằng ”Bí tích hòa giải cần tìm lại được chỗ đứng trung tâm trong đời sống Kitô, vì thế tôi xin các linh mục hãy dành cuộc sống của mình để phục vụ sứ vụ hòa giải (2 Cr 5,18).. (11).

ĐTC yêu cầu các linh mục: niềm nở đón tiếp mọi người, làm chứng về sự dịu dàng của Chúa Cha, dù tội của hối nhân xó nặng nề đến đâu đi nữa; ân cần mau mán giúp đỡ hối nhân suy nghĩ về sự ác đã phạm; minh bạch trong việc trình bày các nguyên tắc luân lý; sẵn sàng đồng hành với tín hữu trong hành trình thống hối, kiên nhẫn với họ, sáng suốt trong việc phận định mỗi trường hợp; quảng đại trong việc ban ơn tha thứ của Thiên Chúa”,

ĐTC cũng nhắc đến sáng kiến: ”Một cơ hội thuận tiện để cử hành sáng kiến 24 giờ cho Chúa có thể là Chúa nhật thứ 4 mùa chay tới đây, được nhiều giáo phận đồng ý, và là một lời kêu gọi mục vụ mạnh mẽ để sống bí tích giải tội một cách khẩn trương” (12).

Ban năng quyền cho các linh mục giải tội vạ phá thai

ĐTC tuyên bố: ”Do nhu cầu ấy, để không có chướng ngại nào ngăn chặn giữa yêu cầu được hòa giải và sự tha thư của Chúa, từ nay trở đi tôi ban cho tất cả các linh mục, do sứ vụ của mình, được năng quyền giải tội vạ cho những người đã phạm tội phá thai. Điều mà tôi đã ban trước đây trong Năm Thánh, nay được nới rộng trong thời gian, bất chấp điều gì trái ngược. Tôi muốn mạnh mẽ tái khẳng định rằng phá thai là một tội trọng, vì nó chấm dứt một sinh mạng vô tội. Tôi cũng có thể và phải mạnh mẽ khẳng định rằng không có tội nào mà lòng thương xót của Thiên Chúa không thể đi tới và tiêu hủy khi Ngài tìm thấy một con tim thống hối xin được hòa giải với Chúa Cha. Vì thế, mỗi linh mục hãy làm người hướng dẫn, nâng đỡ và an ủi trong việc đồng hành với các hối nhân trong hành trình hòa giải đặc biệt này”.

Ban năng quyền cho các linh mục thuộc Huynh đoàn thánh Piô 10

”Trong Năm Thánh vừa qua, tôi cũng đã ban cho các tín hữu, vì nhiều lý do khác nhau, lui tới các nhà thờ do các linh mục thuộc huynh đoàn thánh Piô 10 để lãnh nhận một cách hữu hiệu và hợp pháp bí tích giải tội. Vì thiện ích của các tín hữu ấy, và tin tưởng nơi thiện chí của các linh mục ấy, để với sự trợ giúp của Chúa, các linh mục ấy có thể phục hồi sự hiệp thông trọn vẹn trong Giáo Hội Công Giáo, do quyết định riêng của tôi, tôi quyết định nới rộng năng quyền này vượt qua thời kỳ Năm Thánh, cho đến khi có quyết định mới về vấn đề này, để không ai bị thiếu dấu chỉ bí tích về ơn hòa giải qua sự tha thứ của Giáo Hội” (12).

Trong Tông thư ”Lòng thương xót và người lầm than”, ĐTC đề cập đến sự an ủi trong đau khổ, sự thinh lặng, bí tích hôn phối, lúc qua đời như những thời điểm qua đó lòng thương xót của Chúa cũng được biểu lộ đặc biệt.

Gia đình gặp khó khăn

ĐTC kêu gọi quan tâm giúp đỡ các gia đình gặp khó khăn, và mời gọi “hãy nhìn tất cả những khó khăn của con người với thái độ của tình yêu Thiên Chúa, Đấng không mệt mỏi trong việc tiếp đón và đồng hành.” Ngài xin các linh mục ”quan tâm phân định, sâu xa và sáng suốt để tất cả mọi người, bất kỳ ai, dù sống trong hoàn cảnh nào, cũng có thể cảm thấy được Thiên Chúa đón tiếp cụ thể, tích cực tham gia vào đời sống cộng đoàn và tháp nhập vào Dân Chúa”.

Thực thi bác ái

ĐTC viết: ”Năm Thánh đã kết thúc và Cửa Thánh đã đóng lại. Nhưng cửa lòng thương xót của tâm hồn chúng ta luôn mở rộng. Chúng ta đã học biết rằng Thiên Chúa cúi mình trên chúng ta (Xc Osea 11,4) để chúng ta cũng có thể bắt chước Chúa cúi mình trên anh chị em. Sự tưởng nhớ bao nhiêu người trơ về nhà Cha, Đấng chờ đợi họ, cũng được khơi dậy nhờ những chứng nhân chân thành và quảng đại về sự dịu dàng của Chúa. Cửa Thánh mà chúng ta đã bước qua trong Năm Thánh làm cho chúng ta được tiến sâu vào con đường bác ái mà chúng ta được mời gọi tiến bước mỗi ngày trong niềm trung thành và vui tươi. Đó là con đường thương xót, giúp gặp gỡ bao nhiêu anh chị em, đang giơ tay để ai đó có thể cầm lấy và đồng hành.”

”Ước muốn gần gũi Chúa Kitô đòi chúng ta phải trở nên gần gũi với các anh chị em, vì không có gì làm đẹp lòng Chúa Cha cho bằng một cử chỉ cụ thể từ bi thương xót. Tự bản chất, lòng thương xót được biểu lộ hữu hình qua một hành động cụ thể và năng động. Một khi ta đã cảm nghiệm lòng thương xót trong sự thật, thì không thể thối lui: nó liên tục gia tăng và biến đổi cuộc sống. (16).

ĐTC cũng nhăc lại rằng trong Năm Thánh, đặc biệt là những ngày thứ sáu từ bi thương xót, ngài đã có thể động chạm cụ thể tới bao nhiêu điều thiện ở trong thế giới. Nhiều khi những điều tốt lành ấy không được biết đến vì nó được thực hiện hằng ngày một cách âm thầm kín đáo.. Trong chiều hương đó, ĐTC cám ơn và nghĩ đến bao nhiêu người thiện nguyện hằng ngày dành thời gian của họ để biểu lộ sự hiện diện và gần gũi của Thiên Chúa qua sự tận tụy của họ. Việc phục vụ của họ là một hoạt động từ bi thương xót chân chính, giúp bao nhiêu người đến gần Giáo Hội”. (17).

ĐTC khuyến khích các sáng kiến từ bi bác ái trong các lãnh vực khác nhau, giúp đỡ những người đói khát, các trẻ em, những người di dân tìm kiếm lương thực, công ăn việc làm, nhà cửa và hòa bình, các bệnh nhân dưới nhiều hình thức, các tù nhân, những người mù chữ, những người đang chịu những hình thức nô lệ mới. ”Tóm lại những công việc từ bi thương xót về thể lý và tinh thần cho đến nay vẫn là điều kiểm chứng ảnh hưởng tích cực và lớn lao của lòng thương xót, như một giá trị xã hội. Nó thức đẩy xắn tay áo làm việc để trả lai phẩm giá cho hằng triệu người anh chị em chúng ta”. (18).

Đề ra các sáng kiến bác ái

ĐTC viết: ”Chúng ta được kêu gọi làm tăng trưởng một nền văn hóa từ bi thương xót, dựa trên sự tái khám phá cuộc gặp gỡ với tha nhân: một nền văn hóa trong đó không ai nhìn người khác với sự dửng dưng lãnh đạm, hoặc quay mặt đi nơi khác khi thấy sự đau khổ của người anh em mình. Những công việc từ bi thương xót có tính chất ”thủ công”, không việc nào giống việc nào; bàn tay chúng ta có thể nhào nặn nó bằng hàng ngàn cách, cho dù chỉ có một mình Thiên Chúa soi sáng gợi hứng, và chất liệu duy nhất vẫn là một, đó là chính lòng thương xót. (20)

Sau cùng, ĐTC ấn định Ngày Thế Giới người nghèo sẽ được cử hành vào chúa nhật 33 thường niên. Ngày này sẽ là một sự chuẩn bị xứng đáng để sống lễ Chúa Kitô Vua Vũ trụ, Đấng đồng hóa với người bé nhỏ và nghèo hèn và sẽ xét xử chúng ta về các công việc thương xót (Xc Mt 25,31-46).. Bao lâu còn Lazzaro nằm trước cửa nhà chúng ta (Xc Lc 16,19-21) thì không thể có công bằng cũng chẳng có an bình xã hội” trên thế giới (21).

G. Trần Đức Anh OP



Theo Radio Vatican

Bí tích Thánh Thể và việc bảo vệ Tin Mừng Sự Sống

Bài Thuyết Trình của Đức Cố Hồng Y Alfonso López-Trujillo
Nguyên Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình
Trình bày tại Đại Hội Tông Đồ Tận Hiến Gia Đình, Ngày 19 tháng 7, năm 1998

Các bạn thân mến,

Một lần nữa, tôi xin nhân dịp này cám ơn Hội Tông Đồ Tận Hiến Gia Đình, và đặc biệt là ông bà Jerry và Gwen Coniker, đã tổ chức Đại Hội này và đã mời tôi tham dự.

Chúng ta đã suy nghĩ về đặc quyền và nhiệm vụ của gia đình trong công tác truyền thụ Tin Mừng qua việc dạy Giáo Lý và cầu nguyện trong gia đình. Công tác đa dạng của các bạn cũng nhấn mạnh đến việc gia đình được mời gọi để truyền giáo trong xã hội thế nào. Các bạn cũng đặc biệt nhấn mạnh đến các Giờ Thánh Đừng Sợ, về vai trò của Bí Tích Thánh Thể trong việc kết hợp và củng cố gia đình như một cộng đoàn truyền giáo, và vai trò của gia đình trong việc tôn trọng sự sống trong xã hội ra sao. Các bạn tìm cách đem niềm hy vọng đến cho gia đình khi gặp khó khăn trong ơn gọi truyền thụ Tin Mừng. Vậy chúng ta hãy bỏ một chút thì giờ suy nghĩ về những đề tài trên.



Gia Đình và Việc Bảo Vệ Sự Sống

Nhân loại ngày nay có vẻ dã man và bất nhân hơn bao giờ hết, bất kể những tiến bộ về kỹ thuật và khoa học.

Như các bạn đã biết, hiện nay mỗi năm có trên 50 triệu trẻ em vô tội bị thanh trừng bởi tội ác phá thai. Điều này chẳng khác gì mỗi năm toàn thể dân chúng nước Ý Đại Lợi bị tiêu diệt trong cuộc chiến tàn bạo và tồi tệ nhất.

Đó là cuộc chiến chống lại những người cô thế và vô tội, là những người cũng có quyền sống, là quyền căn bản mà không ai có thể từ chối được.

Năm nay chúng ta mừng kỷ niệm 50 năm công bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Từ giây phút thụ thai, “người được thụ thai” là một hình ảnh của Thiên Chúa và được mời gọi để thành con cái Thiên Chúa qua Bí Tích Thánh Tẩy.

Đức Thánh Cha [Gioan Phaolô II] đã dạy rằng có hai Tin Mừng không thể tách rời nhau được: Tin Mừng cho gia đình, là Tin Mừng cho mọi người, vợ chồng, con cái và xã hội! Và cũng có Tin Mừng Sự Sống: Sự sống con người là hồng ân của Thiên Chúa và chỉ thuộc quyền Thiên Chúa. Sự sống con người thiêng liêng. Con người không phải là một sự vật, không phải một dụng cụ mà một người có thể sử dụng, thao túng và vất đi. Không ai có quyền muốn làm gì thì làm với đời sống của một con người vô tội. Thông Điệp Evangelium Vitae của ĐTC Gioan Phaolô II là một thông điệp vĩ đại và lịch sử trong việc bảo vệ sự sống con người.

Hội Thánh bênh vực sự sống con người với tình yêu và lòng can đảm, cùng công bố hồng ân tuyệt vời này là hồng ân mà gia đình cũng phải công bố, rao truyền và bảo vệ. Thưa các phụ huynh, không có của cải nào quý giá hơn là con cái quý vị! Hội Thánh bênh vực sự sống của mọi người, đặc biệt là những người nghèo khổ nhất, yếu đuối nhất và thiếu thốn nhất, các trẻ em chưa được sinh ra, các bệnh nhân, và sự sống của các bậc lão thành. Thời nay người ta bị cám dỗ khai trừ tất cả những người này vì coi họ là gánh nặng cho xã hội và cho chính gia đình.

Hội Thánh nhắc nhở chúng ta rằng là con người, họ đã được Đức Kitô cứu chuộc và Người cũng đã hiến mạng sống Người cho họ. Người đã yêu tôi và đã hiến mạng sống Người cho tôi! Người cũng làm thế cho các bệnh nhân, cho những người bị khinh rẻ. Điều gì là điều then chốt và là lý do của giá trị cao cả của con người? Điều then chốt là người ấy là một người được Thiên Chúa yêu thương… quá mức đến nỗi mà Chúa Giêsu phải cứu chuộc người ấy trên Thập Giá.

Không ai, không một quyền lực nào, không một quyền bính nhân loại nào, một quốc hội nào, một chính phủ nào, có thể dành cho mình quyền thế và quyền đối xử với một con người như sự vật và quyết định rằng người ấy không có quyền sống.

Thật là một gương mù không những chi cho các tín hữu mà còn cho tất cả mọi người khi nghe về những tội ác phạm đến những người nghèo đói và thiếu thốn nhất.

Một Cuộc Vận Động Vĩ Đại Vì Sự Sống

Việc bảo vệ sự sống, nền văn hóa sự sống, tìm được sự hỗ trợ lớn lao nhất từ các gia đình. Thể chế gia đình có một sứ vụ là bảo vệ sự sống, giáo dục nó và đưa nó đến sung mãn.

Các bạn đã biết rõ lời mời gọi mà Hội Thánh đưa ra cho chúng ta qua Thông Điệp Evangelium Vitae, là tham gia vào “một cuộc vận động vĩ đại vì sự sống.” Thông Điệp này đặc biệt mời gọi các gia đình trở thành phương tiện mà qua đó Nền Văn Hóa Sự Sống được phục hồi. Quả thật, Đức Thánh Cha đã vạch ra rằng một trong những ly do mà phá thai và giết chết êm dịu là những tội ác tầy trời khủng khiếp vì chúng xảy ra trong gia đình, là nơi che chở sự sống. Vì thế Ngài tiếp tục quả quyết rằng, “Trong số ‘những người vì sự sống và cho sự sống’, gia đình có một nhiệm vụ tiên quyết. Nhiệm vụ này phát sinh từ chính bản chất của gia đình là một cộng đồng sự sống và tình yêu… Như một Hội Thánh Tại Gia, gia đình được triệu tập để công bố, cử hành và phục vụ Tin Mừng Sự Sống” (EV, số 92).

Bí Tích Thánh Thể và việc Bảo Vệ Sự Sống

Bí Tích Thánh Thể dạy các gia đình và thúc đẩy họ bảo vệ sự sống. Chúng ta hãy nhìn đến một vài điểm trong lãnh vực này.

Bằng một cách đặc biệt, các bạn đang có mặt ở Đại Hội này biết rằng các gia đình được thêm sức mạnh trong ơn gọi này qua việc cùng nhau tôn sùng Thánh Thể. Việc tôn kính như thế kéo các phần tử lại gần nhau hơn trong mối giây bác ái là điều thiết yếu của những gia đình vững mạnh. Việc làm giờ thánh gia đình, được hội Tông Đồ này cổ võ, ghép gia đình vào sứ vụ hằng ngày của Hội Thánh để thăng tiến Tin Mừng Sự Sống.

Hội Thánh không thể tồn tại được nếu không có Bí Tích Thánh Thể. Gia đình Kitô hữu cũng thế. Sức bổ dưỡng của gia đình đến từ Mình và Máu Thánh Chúa. Sứ vụ làm Hội Thánh Tại Gia của gia đình cũng được tìm thấy trong Bí Tích Thánh Thể và dẫn nó trở lại cùng Bí Tích Thánh Thể, là nguồn mạch và tột đỉnh của tất cả đời sống và hoạt động của Hội Thánh.

Quyết tâm thăng tiến nền Văn Hóa Sự Sống của gia đình lãnh nhận hình thái và sức bổ dưỡng của nó từ Bí Tích Thánh Thể như là một Bí Tích của Đức Tin, của sự hiệp nhất, của đời sống, của việc phụng tự và của tình yêu.

Bí Tích Thánh Thể là một Bí Tích của Đức Tin. Chúng ta không thấy gì khác nơi Bánh Thánh trước khi và sau khi Truyền Phép. Bánh Thánh có cùng một hình dáng, mùi, vị, và cảm giác như một tấm bánh. Chỉ có một trong năm ngũ quan nhận ra sự thật. Như Thánh Thôma diễn tả trong ‘Adoro Te Devote’ rằng, “Người ta đều bị đánh lừa vì nhìn, đụng chạm, và nếm Người. Nghe và tin vào lời nói thì mới tin Người?” Tai nge Lời Người, “Đây là Mình Thầy; đây là Máu Thầy,” và Đức Tin dẫn đưa chúng ta vào phía sau bức màn che của sự vẻ bề ngoài.

Các Kitô hữu thường có cái nhìn vượt qua những vẻ bề ngoài. Em bé nằm trong máng cỏ không nhìn giống Thiên Chúa chút nào; hay con người bị treo trên Thập Giá cũng chẳng sao. Nhưng nhờ Đức Tin mà chúng ta biết con người ấy không phải chỉ là người. Sách Thánh Kinh không có hào quang tỏa ra giữa những sách khác, nhưng nhờ Đức Tin chúng ta biết rằng sách ấy là Lời đặc biệt của Thiên Chúa. Thánh Thể có vẻ như chỉ là bánh và rượu, nhưng nhờ Đức Tin chúng ta thưa “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con!” khi chúng ta quỳ gối thờ lạy.

Cũng một động lực của Đức Tin giúp chúng ta thấy vượt qua vẻ bề ngoài của những mầu nhiệm này, cũng làm cho chúng ta thấy vượt qua vẻ bề ngoài của những người lân cận của mình. Chúng ta có thể nhìn đến những người chung quanh chúng ta, đến những người làm chúng ta khó chịu, hay những người xấu xí, hoặc những người nằm bất tỉnh trên giường bệnh, và có thể nói rằng, “Đức Kitô cũng ở đấy. Đó là anh em tôi, chị em tôi, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa!” Bằng cùng một động lực chúng ta cũng có thể nhìn vào một em bé trước khi được sinh ra và nói, “Đây cũng là anh em tôi, chị em tôi, có nhân phẩm ngang hàng như mọi người và đáng được bảo vệ như những người khác!” Có một số người sẽ nói rằng đứa trẻ trong bụng, đặc biệt là trong những giai đoạn đầu tiên, quá nhỏ để được bảo vệ bởi Hiến Pháp. Có phải Bánh Thánh quá nhỏ để có thể là Thiên Chúa, và vẻ bề ngoài quá khác Thiên Chúa để chúng ta thờ kính không? Một mảnh vụn nhỏ nhất của Bánh Thánh cũng hoàn toàn là một Đức Kitô. Đức Tin Thánh Thể là một thuốc giải độc mạnh cho quan niệm nguy hiểm là giá trị tùy thuộc vào kích thước, hoặc sưc mạnh, hay bất cứ đặc tính nào khác. Là gì chứ không phải có gì, mới là nguồn gốc của phẩm giá.

Hãy tưởng tượng tất cả mọi người khắp nơi trên thế giới là những người đang rước Lễ hôm nay. Có phải mỗi người đang đón nhận một cái gì khác nhau không? Chẳng phải mỗi người đang đón nhận một và chỉ Đức Kitô duy nhất? Qua Bí Tích này, Đức Kitô là Chúa, Đấng ngự trị vinh hiển trên Thiên Đàng đang kéo tất cả mọi người lên với Chính Người. Chính Người là Đấng lôi kéo chúng ta lên với Người, rồi Người kéo chúng ta lại với nhau. Thánh Phaolô giải thích về điều này, “Chúng ta, tuy nhiều người, nhưng chỉ là một thân thể, vì chúng ta cùng chia sẻ một tấm bánh” (1 Cor 10:17). Khi chúng ta gọi nhau là “anh chị em,” chúng ta không chỉ dùng ẩn dụ để phản ảnh một cách mờ ảo sự liên kết giữa con cái cùng một cha mẹ. Sự hợp nhất chúng ta có trong Đức Kitô còn mạnh mẽ hơn sự hợp nhất giữa anh chị em ruột thịt, bởi vì chúng ta có cùng chung một máu: Máu Thánh của Đức Kitô! Kết quả của Thánh Thể là chúng ta trở nên một, và đều này đòi buộc chúng ta phải lo lắng cho nhau như chúng ta lo lắng cho bản thân mình.

Đây là sự hợp nhất của gia đình: chúng ta đã khám phá ra chúng ta là con cái Thiên Chúa. Chúng ta có thể kêu lên, “Abba,” có nghĩa là, “Cha ơi!” Chính Chúa Thánh Thần làm chứng cho tinh thần chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa (x. Rom 6:16). Tất cả đều là con cái.

Hãy tưởng tượng một người lên Rước Lễ, sau khi lãnh nhận Bánh Thánh, người ấy bẻ ra một mảnh trả lại cho vị linh mục. Điều này tượng trưng cho những gì xảy ra khi một người tẩy chay một người khác mà Đức Kitô đã cứu độ! Khi lãnh nhận Đức Kitô, chúng ta, dù thuận lợi hay không, dù muốn hay không, cũng lãnh nhận toàn thể Đức Kitô, trong tất cả các phần tử của Người, là anh chị em của chúng ta.

Như Thánh Gioan ghi nhận, Đức Kitô đã phải chết “để quy tụ con cái Thiên Chúa tản mác khắp nơi thành một.” Tội lỗi phân tán. Đức Kitô kết hợp. Chữ “diabolical (ma quỷ)” có nghĩa là “cắt ra từng mảnh.” Đức Kitô đến “để tiêu diệt công trình của ma quỷ” (1Ga 3:8). Bí Tích Thánh Thể xây dựng gia đình nhân loại trong Đức Kitô là Đấng mời gọi, “Hãy đến với Thầy, hãy nuôi các con bằng Máu Thầy, hãy trở thành Thân Thể Thầy.” Trong một động lực trái ngược, việc phá thai nói, “Cút đi! Chúng ta không có chỗ cho ngươi, chúng ta không có thì giờ cho ngươi, chúng ta không muốn ngươi, chúng ta không có trách nhiệm về ngươi. Hãy tránh đường cho chúng ta đi!” Việc phá thai tấn công sự hợp nhất của gia đình nhân loại bằng cách cắt ra từng mảnh mối liên hệ cơ bản nhất giữa hai người: người mẹ và đứa con. Bí Tích Thánh Thề, như là Bí Tích của Hợp Nhất, quay ngược động lực của phá thai lại.

Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích của Sự Sống. “Ta là Bánh Hằng Sống. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết” (x. Ga 6:47-58). Hy tế Thánh Thể là chính hành động của Đức Kitô mà nhờ đó Người tiêu diệt sự chết và phục hồi sự sống cho chúng ta. Mỗi khi chúng ta họp nhau lại để dự Hy lễ này chúng ta mừng việc sự sống chiến thắng sự chết, và như thế cũng chiến thắng phá thai. Phong trào phò sự sống không phải hoạt động cho chiến thắng mà hoạt động từ chiến thắng. Như Đức Thánh Cha đã nói ở Denver năm 1993, “Đừng sợ. Kết quả của cuộc chiến phò sự sống đã được định đoạt.” Công việc của chúng ta là áp dụng chiến thắng đã được thiết lập vào mọi phương diện của xã hội chúng ta. Cử hành Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh của công việc ấy.

Bí Tích Thánh Thể là hành vi Thờ Phượng Thiên Chúa Tối Cao. Mỗi người cần học hai bài học là, “1. Có Thiên Chúa. 2. Không phải tôi.” Bí Tích Thánh Thể là một Hy lễ hoàn hảo, nhìn nhận Thiên Chúa là Thiên Chúa, và nhìn nhận rằng “Ngài có quyền được mọi tạo vật vâng phục” (Sách Lễ, Ca Nhập Lễ Ngày Thứ 3 Trong Tuần). Ngược lại, việc phá thai công bố rằng sự chọn lựa của người mẹ là tối cao. “Tự do chọn lựa” được coi là đủ để biện minh cho ngay cả việc cắt một em bé ra từng mảnh. Chọn lựa bị tách ra khỏi chân lý là thờ ngẫu tượng. Nó trái ngược với việc thờ phượng chân chính. Nó cho rằng tạo vật là Thiên Chúa. Tự do chân chính chỉ được tìm thấy trong việc tùng phục chân lý và Thánh Ý Thiên Chúa. Tự do thật không phải là khả năng muốn làm gì thì làm, mà là khả năng có thể làm điều phải.

Cuối cùng, Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích Tình Yêu. Thánh Gioan giải thích, “Nhờ điều này mà chúng ta biết được tình yêu, là Chúa Giêsu Kitô đã thí mạng sống Người vì chúng ta” (1 Ga 3:16). Đức Kitô dạy, “Không có tình yêu nào lớn hơn là của người thí mạng sống mình cho bằng hữu” (Ga 15:13). Biểu tượng đúng nhất của tình yêu không phải là trái tim mà là Tượng Chịu Nạn.

Phá thai là điều hoàn toàn trái ngược với tình yêu. Tình yêu nói, “Tôi hy sinh chính mình vì lợi ích của người khác.” Phá thai nói, “Tôi hy sinh người khác vì ích lợi của tôi.” Trong Bí Tích Thánh Thể, chúng ta nhìn thấy ý nghĩa của tình yêu và lãnh nhận sức mạnh để sống tình yêu này. Hơn nữa, những kẻ cổ võ việc phá thai cũng dùng cùng một lời Chúa dùng để dạy chúng ta ý nghĩa của tình yêu: “Đây là mình tôi.” Bốn chữ bé nhỏ này được nói lên từ đầu kia của vũ trụ, với những kết quả hoàn toàn trái ngược. Đức Kitô thí mình Người để người khác được sống; những kẻ ủng hộ phá thai giữ chặt lấy thân xác mình để cho người khác phải chết. Đức Kitô phán, “Đây là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con; Đây là Máu Thầy sẽ đổ ra cho các con.” Đó là những lời của hy sinh; đó là những lời của tình yêu.

Năm 1994 tại Washington, Mẹ Têrêxa đã nói rằng chúng ta chống phá thai bằng cách dạy cho người mẹ tình yêu thực sự có nghĩa gì: “sẵn lòng cho đi đến lúc bị tổn thương… Như thế, người mẹ đang nghĩ về phá thai phải được giúp đỡ để yêu, nghĩa là biết cho đi đến khi chương trình hay thì giờ nhàn rỗi của người mẹ ấy bị tổn thương, để người mẹ ấy tôn trọng sự sống của con bà.”

Gustave Thibon đã nói rằng Thiên Chúa thật biến đổi sự bạo tàn thành đau khổ, trong khi đó Thiên Chúa giả biến đổi đau khổ thành bạo tàn. Người phụ nữ có ý phá thai sẽ biến đổi cái đau khổ của chị thành bạo tàn trừ khi chị ấy để cho tình yêu biến đổi chị, và làm cho chị bằng lòng hy sinh. Bí Tích Thánh Thể ban cho chúng ta cả bài học lẫn sức mạnh. Một người Mẹ phải nói, “Đây là mình mẹ, máu mẹ, sự sống mẹ, mẹ sẽ nộp cho con là con mẹ.”

Thường thì phụ nữ là nạn nhân của lương tâm xấu của xã hội.

Mọi người muốn chống phá thai cũng cần phải nói cùng những lời như trên. Chúng ta cần thực thi cùng một sự đại lượng mà chúng ta yêu cầu các người mẹ thực thi. Chúng ta phải bắt chước những mầu nhiệm mà chúng ta cử hành. “Hãy làm việc này để nhớ đến Thầy” có thể áp dụng cho tất cả chúng ta theo nghĩa là chúng ta cùng chịu đau khổ cách yêu thương với Đức Kitô để cho người khác được sống. Chúng ta phải giống như cột thu lôi giữa cơn giông tố kinh hoàng của bạo tàn và hủy diệt này, và thưa, “Lạy Chúa, con sẵn lòng lãnh nhận một phần nào sự bạo tàn này và nhờ tình yêu mà biến đổi nó thành sự đau khổ riêng của con, để người khác được sống.”

Thật vậy, Bí Tích Thánh Thể ban lệnh tiến quân cho phong trào phò sự sống. Bí Tích này cũng ban cho nó nguồn năng lượng, đó là tình yêu. Quả thế, nếu phong trào phò sự sống không phải là một phong trào của tình yêu, thì nó không còn là gì cả. Nhưng nếu nó là phong trào của tình yêu, thì không có gì có thể chặn đứng được nó, vì “Tình yêu mạnh hơn sự chết, và có quyền năng hơn cà hỏa ngục” (Nhã Ca 8:6).

Kết Luận

Kính thưa anh chị em, các gia đình lành mạnh là hy vọng của thế giới, vì thế chúng ta phải xây dựng các gia đình lành mạnh ấy với một ý nghĩa hy vọng cao cả. Nhìn thấy những sự dữ trên thế gian không thể làm cớ cho chúng ta bỏ trốn thế gian, nhưng ngược lại làm cho chúng ta tích cực tìm cách đối thoại với nó về ơn cứu độ.

Như là một sự hỗ trợ cho niềm hy vọng ấy, tôi xin phép kết luận bằng cách mời anh chị em chú ý đến Đại Hội Thế Giới của Đức Thánh Cha với các Gia Đình ở Rôma, mà Ủy Ban Giáo Hoàng về Gia Đình sẽ bảo trợ trong Mùa Thu của Năm Thánh 2000. Cuộc gặp gỡ này được đánh dấu bằng một Hội Nghị Thần Học Mục Vụ, bằng một cuộc cử hành Lời Chúa và chúc tụng vui mừng cùng với Đấng Kế Vị Thánh Phêrô, và bằng Một Phụng Vụ Thánh Thể do Đức Thánh Cha cử hành, là một giây phút của ân sủng trọng đại có thể giúp chúng ta đào sâu sự hiểu biết, quyết tâm, và hiệp nhất giữa những người cùng hoạt động vì sự sống và gia đình. Hai lần gặp gỡ trước cũng vậy, lần thứ nhất được tổ chức ở Rôma trong Năm Quốc Tế về Gia Đình (1994), và lần thứ nhì được tổ chức năm ngoái ở Rio de Janeiro. Tôi nhiệt tâm hy vọng rằng nhiều người trong anh chị em, hợp cùng nhiều người khác trong Nước Hoa Kỳ, sẽ có thể tham gia cuộc hành hương Đức Tin đến Rôma trong năm 2000, để hợp nhau cầu nguyện cùng với các gia đình khác từ khắp nơi trên thế giới.

Nguyện xin Chúa chúc lành dồi dào cho anh chị em, gia đình anh chị em, và công việc rất trọng yếu mà anh chi em đang làm cho Nước của Người.

Phaolô Phạm Xuân Khôi


Nguồn: Dân Chúa USA

Đừng nhẫn tâm, Em ơi!

BVSS (22.7.2016) – Em ơi! Nếu phải chọn lựa lẽ sống, xin em đừng bao giờ đánh mất tình yêu của mình! Chắc em sẽ chẳng hiểu được nỗi đau tột cùng của Đấng đã tạo tác nên em, khi em nhẫn tâm phá vỡ tình yêu mà lẽ ra con của em phải được hưởng. Em cũng không hình dung được mình đã tàn nhẫn như thế nào, khi sẵn sàng cho một sự giết hại, mà đối tượng có ai khác là đứa con của mình. Điều gì to lớn tác động trên em đến nỗi em phải đánh đổi tất cả? Điều gì có sức mạnh đến độ tiêu diệt cả tình mẫu tử trong em? Và điều gì đã khiến em mất hết nhân cách của một con người?



Danh dự ư? Đó là điều đáng quý khi em biết trân trọng trước mọi hành động của mình. Khi đến với người yêu của mình, em có đặt danh dự của một người con gái biết gìn giữ sự trinh khiết trên mọi việc làm của mình không? Em có biết khuyên lơn người yêu của em cùng vun đắp một tình yêu trong sạch và tinh tuyền, cho đến khi cả hai cùng tiến lên bàn thờ để thề hứa trước mặt Chúa không? Đó là danh dự đấy em ạ! Một khi em đã sai đường, thì danh dự duy nhất mà em cần phải gìn giữ, chính là danh dự của một người mẹ sẵn sàng đón nhận đứa con của mình với tất cả tình yêu, bất chấp sự chê cười của bàn dân thiên hạ. Và đó cũng là danh dự mà Thiên Chúa ban cho tất cả mọi phụ nữ khi trao cho họ thiên chức làm mẹ. Như vậy, em đừng vì xấu hổ do lầm lỗi của mình, hay vì bị thúc ép bởi những thế lực bên ngoài mà đánh mất chính mình. Cái xấu hổ có thể qua đi, thế lực bên ngoài chỉ một sớm một chiều, còn lương tâm của em là tiếng nói nhắc nhở em suốt cả cuộc đời. Em sẽ chẳng bao giờ nguôi ngoai khi nhẫn tâm giết chết con mình. Hãy dừng lại đi em! Hãy suy nghĩ chín chắn hơn nữa đi em! Và hãy tha thiết cầu xin Chúa giúp sức cho em vượt qua mọi điều tiếng của miệng lưỡi người đời, để em hiểu thiên chức làm mẹ cao quý là dường nào!

Khó khăn vật chất ư? Chẳng lẽ cái lý do đơn giản đó lại là cái quyết định đến mạng sống của một con người sao? Chẳng lẽ em lại ích kỷ đến độ chẳng dám hy sinh những nhu cầu của cá nhân mình để con em được mở mắt chào đời sao? Vẫn còn đó những con người sẵn sàng ra tay giúp đỡ em! Vẫn còn đó những tấm lòng luôn rộng mở để hỗ trợ em! Và trên hết là ánh mắt của Thiên Chúa ngày đêm dõi theo em để cứu giúp em! Em ơi, chẳng gì có thể ngăn cản tình mẫu tử một khi em có tình yêu! Hãy yêu đứa con em đang cưu mang với tất cả con người của mình và hơn thế nữa, em nhé! Đừng chỉ yêu bản thân mình mà đánh mất mọi sự! Tình yêu em dành cho con của mình sẽ luôn là động lực giúp em vượt qua mọi khó khăn, và làm cho em thấy rằng: Cần phải biết trân trọng mạng sống con người, vì đó là công trình tạo tác của Thiên Chúa.

Bào thai em đang cưu mang không phải là một con người ư? Tội lỗi đã làm cho em mê muội đến độ không còn nhận biết con người được tác thành như thế nào sao? Hay vì những thú vui trần gian đã làm cho em mất hết khả năng đón nhận tri thức, đạo đức, luân lý và tình cảm mà Đấng Tạo Hóa đã trao ban cho em? Em hãy nhớ rằng: Việc em chào đời không phải chỉ do tình yêu của cha và mẹ em, mà còn phải có sự tác thành của Thiên Chúa nữa. Chính bàn tay Chúa đã kết hợp hai nhân tố ấy nên một, để em được hình thành trong cung lòng mẹ. Em đã là con người từ giây phút ấy! Đứa con em đang cưu mang cũng đã là một con người! Vì thế, em đừng dứt bỏ như dứt bỏ một cuộc chơi! Hãy dừng lại hành động nhẫn tâm của mình! Hãy nhớ lại em cũng đã được cưu mang trong lòng mẹ như thế! Hãy cho con của em được khóc với những nỗi đau của em, được cười với những niềm vui của em, và được san sẻ cuộc sống với em cách tròn đầy tình nghĩa mẹ con, em nhé!

Em ơi! Trước khi làm việc gì, em đừng quên phải giữ cho mình một tâm hồn trong trắng! Vượt qua được khó khăn chừng nào, em càng thấy được giá trị cao quý của tình yêu chân thật chừng ấy. Đừng để thân xác mình trở nên nặng nề bởi những thú vui chóng qua, hay trở thành sản phẩm của sự mua bán! Đừng phá hủy Đền Thờ của Chúa bởi những tội lỗi của mình! Chúa chẳng bao giờ chấp tội em đâu! Ngài sẵn sàng tha thứ khi em biết quay về! Em hãy cố gắng để đừng dấn sâu vào tội nữa! Những hy sinh của tình mẫu tử là dịp để em được đền bù tội lỗi của mình và sống đúng hơn với phẩm giá con người. Mong em hãy luôn nhớ rằng: Tình yêu Thiên Chúa vượt trên mọi tội lỗi của chúng ta, và Ngài luôn giang rộng vòng tay chờ đón chúng ta quay về. Hãy dừng lại và hãy quay về, em nhé!

Therese Trần Thị Kim Thoa

dongten.net

Hạ viện Ailen bác đề xuất phá thai khi ‘thai nhi bị bệnh hiểm nghèo’

BVSS (18.7.2016) – Hạ viện Ireland đã bác bỏ dự luật cho phép phá thai trong trường hợp thai nhi được chuẩn đoán có ít khả năng sống sót.

Ảnh: Phòng họp Hạ nghị viện Ailen (Irish Times)

Ngày 7/7 vừa qua, 45 trên 95 nghị sĩ Hạ nghị viện Ireland đã phủ quyết một dự luật sửa đổi cho phép phá thai trong trường hợp “bào thai dị thuờng và mắc bệnh chết nguời“.

Các nhà hoạt động Bảo Vệ Sự Sống (tức chống phá thai) đã chỉ ra rằng, trẻ em trong các trường hợp này, thường sống sót sau khi sinh, và một số còn sống khỏe mạnh.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Ireland tuyên bố dự luật là vi hiến.

Tuy nhiên, chính phủ đã không công bố phát ngôn này, và ba bộ trưởng cấp cao của chính phủ đã lội ngược dòng khi bỏ phiếu ủng hộ dự luật.

Hiếp pháp Ailen quy định quyền được sống của các bà mẹ và các thai nhi sắp chào đời của họ là ngang nhau. Tuy nhiên, Tòa án Tối cao đưa ra phán quyết vẫn cho phép phá thai trong một số trường hợp giới hạn.

Bộ trưởng Bộ Y tế Ailen, Simon Harris, một người phản đối dự luật sửa đổi, đã phát biểu trong cuộc tranh luận của nghị viện: “Đừng bao giờ nói rằng một thai nhi trong tình trạng ‘dị thuờng và mắc bệnh chết nguời’ thì sẽ không được chào đời, dù cuộc sống của bé chỉ ngắn ngủi trong vài phút hay chỉ đủ cho một hơi thở hay một nhịp đập trái tim.”

Ông nói: “Nếu một thai nhi vẫn có khả năng được chào đời, thì thai nhi ấy phải được hiến pháp bảo hộ.”

Bà Cora Sherlock, phát ngôn viên của chiến dịch Bảo Vệ Sự Sống, cáo buộc những chính trị gia ủng hộ dự luật sửa đổi đang tiếp tay “gây tổn hại tới các gia đình của những hài nhi trong tình trạng nguy kịch, đặc biệt là những người bị thúc ép phải phá thai.”

Bà Sherlock nói: “Thật đáng lo ngại cách mà một số chính trị gia đang cố gắng đưa ra dự luật, thứ loại bỏ tất cả những bảo vệ pháp lý cho các thai nhi mắc bệnh nặng và cần sự hỗ trợ của chúng ta”.

Ireland hợp pháp hóa việc phá thai vào năm 2013, sau các cuộc tranh luận căng thẳng giữa các nhà lập pháp khiến một vài người trong số đó từ chức, và một bộ trưởng bị sa thải vì không đồng tình ủng hộ việc làm này.

Luật Ailen cho phép phá thai khi tính mạng của người mẹ trong tình trạng nguy hiểm, kể cả trong trường hợp người mang thai nói rằng họ sẽ nghĩ đến việc tự tử nếu tiếp tục mang thai”.

Luật cũng quy định rằng những ai thực hiện hàng vi phá thai trong các trường hợp khác ngoài sự cho phép có thể bị tù lên tới 14 năm.

Cũng theo luật này, các thủ tục đánh giá rủi ro cho tính mạng của thai phụ sẽ khác nhau tùy thuộc vào tình trạng của họ. Một bác sỹ có thể đưa ra quyết định phá thai trong tình trạng khẩn cấp khi tính mạng người mẹ đang nguy kịch.

Nếu có nguy cơ tử vong vì bệnh lý mà tình hình không nguy kịch và thai phụ không có ý định tự tử thì cần phải có hai bác sỹ cùng quyết định. Tuy nhiên, nếu người mang thai có ý định tự tử, họ sẽ được một nhóm ba bác sỹ phỏng vấn, trong đó có hai bác sỹ tâm thần và một bác sỹ sản khoa và tất cả phải đồng thuận.

Thủ tướng Enda Kenny đã hứa sẽ triệu tập một hội nghị công dân gồm các nhà lập pháp và các thành viên công chúng để xem xét các vấn đề phá thai.

Hà An

Truyền thông Thái Hà

Viết cho em bị ung thư quyết cho con mình được mở mắt chào đời!


Em Trâm thân mến,

Biết hoàn cảnh của em trong những ngày qua, ai cũng ngưỡng mộ và tiếp tục cầu nguyện cho mẹ con em rất nhiều. Ngưỡng mộ vì em chấp nhận đau đớn trong căn bệnh ung thư để cho con được chào đời. Và tiếp tục cầu nguyện để mẹ con em có nhiều sức khỏe, có những phép màu trong ngày tháng sắp tới.

Hạnh phúc làm mẹ chưa kéo dài được bao lâu, em nhận được hung tin mình mắc bệnh ung thư phổi. Giai đoạn di căn khiến em trăm chiều đau đớn. Bác sĩ Trần Đức Thọ, Phó khoa gây mê hồi sức cho biết, em vào viện khi thai được 27 tuần, tình trạng sức khỏe yếu, suy hô hấp khó thở, tràn dịch màng tim, màng phổi. Khi biến chứng ung thư đến cực điểm, và cũng là lúc thai nhi được 29 tuần tuổi, 2 ekíp y bác sĩ gồm mổ đẻ và sơ sinh từ bệnh viện Phụ sản Trung ương đành chọn giải pháp tối ưu là mổ bắt con. Trong suốt ca mổ ngày 10-7 vừa qua, vì không thể gây mê và chẳng thể tiêm thuốc an thần nên em tỉnh táo trong đau đớn. Cả ekip bác sĩ mổ cho em đều căng thẳng và sợ rằng mất cả hai mẹ con.

Cùng với mẹ con em, chúng tôi tạ ơn Thượng đế đã gửi đến những y bác sĩ tài ba đức độ. Họ cùng với em dệt nên phép màu: dành lấy sự sống cho em và bé Trần Gấu. Dĩ nhiên đây là ca mổ quá đặc biệt với mọi người. Đặc biệt vì sự sống mong manh của em. Đúng như lời chia sẻ của bác sĩ Nguyễn Liên Phương, người trực tiếp mổ cho em: “Nhìn thai phụ ngồi thở, tôi cảm nhận sự sống của chị rất mong manh có thể đi bất cứ lúc nào nhưng vẫn cố trao đổi về ca mổ với tôi”. Tạ ơn Thượng đế đã cho em và bé được qua khỏi thời khắc thập tử nhất sinh!

Em biết không, nhiều người ngạc nhiên khi em sẵn lòng chấp nhận hy sinh mạng sống mình để con em được sống. Hẳn là tình mẫu tử luôn lớn hơn bất cứ lời khuyên hợp lý nào. Em khước từ mọi lời khuyên phá thai để điều trị hiệu quả cho mình. Cảm ơn lòng quả cảm của em: trước cái chết, em cũng phải cho con mình được sống. Do đó, em quyết cầm cự đủ lâu để hy vọng con em thấy ánh mặt trời. Đúng là tình mẫu tử luôn có sức mạnh phi thường. Chúng tôi đồng cảm với tâm tình của em: “Bác sĩ cứ cố gắng hết sức, được đến đâu thì được, chào đời được thì con em sẽ tự chiến đấu với đời’!” Lời của em thêm nghị lực cho các bác sĩ cố hết sức mình cứu dành lại sự sống cho mẹ con em.

Phép màu đã mỉm cười với hai mẹ con em sau 30 phút chiến đấu với tử thần. Em hạnh phúc nhìn thấy con mình được cất tiếng khóc chào đời. Tuy bé Trần Gấu còn quá yếu, nhưng hy vọng tình yêu sẽ cho con em đủ sức để vượt qua. Chắc hẳn con em sẽ nhớ lắm thời khắc mẹ trao lại sự sống cho mình! Nằm trong lồng ấp lúc này, ước gì con em luôn an mạnh để ước mơ của em lớn lên trong người con mà em hằng yêu mến.

Cảm ơn mẫu gương tuyệt vời của em về tình mẫu tử thiêng liêng. Em yên tâm, chúng tôi tiếp tục cầu nguyện cho mẹ con em thật nhiều. Bệnh ung thư không ai ưu thích và cũng chẳng ai dám nghĩ tới, em nhỉ?! Tiếc là nó đã tàn phá tuổi xuân thì của em. Ước mong Thượng đế luôn cho em bình an để đón nhận tất cả. Rồi mai đây, khi con em lớn lên, bé luôn ngưỡng mộ em: một người mẹ tuyệt vời!

Qua mẫu gương của em, mong sao các thai phụ luôn biết yêu quý bào thai của mình. Ước mơ tệ nạn phá thai hay vứt bỏ con mình không còn xảy ra trên quê hương mình nữa. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tình mẫu tử luôn chiến thắng mọi gian nan thử thách. Bởi đơn giản người con nào cũng cần vòng tay yêu thương của mẹ cha. Lúc này, chúng tôi hết lòng chia sẻ nỗi đau bệnh của mẹ con em. Van xin Thượng đế ban cho mẹ con em được nhiều bình an hạnh phúc! Cố lên, chúng tôi luôn đồng hành với gia đình em trong lời cầu nguyện!
Thân chào mẹ con em,

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J

Nguồn: dongten.net

Đức khiết tịnh là gì, có ý nghĩa như thế nào?

Khiết tịnh hoặc trinh tiết liên quan hành vi tình dục của nam giới hoặc nữ giới được chấp thuận theo tiêu chuẩn luân lý và văn hóa, văn minh hoặc tôn giáo. Trong thế giới Tây phương, giới hạn này được kết hợp (và thường được dùng hoán đổi nhau) với sự kiêng cữ tình dục, nhất là trước hôn nhân. Tuy nhiên, giới hạn này vẫn phù hợp với mọi người ở các quốc gia, độc thân hoặc kết hôn, giáo sĩ hoặc giáo dân, và có liên quan vượt ngoài sự chừng mực về giới tính.

Trong Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, và Bahai giáo (Baha’i), các hành vi tình dục đều được giới hạn trong hôn nhân. Với những người chưa kết hôn, khiết tịnh được đồng hóa với sự tiết chế tính dục. Các hành vi tình dục ngoài hôn nhân, như ngoại tình, gian dâm (thông dâm) và mại dâm, đều là tội lỗi.



Theo truyền thống Kitô giáo, khiết tịnh đồng nghĩa với sự thuần khiết về giới tính. Khiết tịnh nghĩa là không có mối quan hệ tình dục nào trước hôn nhân. Điều này cũng có nghĩa là sống chung thủy với chồng hoặc vợ trong hôn nhân. Theo luân lý Công giáo, khiết tịnh được đặt đối nghịch với tội dâm dục, và được coi là một trong bảy nhân đức (*). Kiềm chế ham muốn tình dục được coi là nhân đức. Lý do là ý và ham muốn có thể kết hợp hài hòa với nhau để làm điều tốt.

Quan điểm của Ấn giáo (Hinduism) về tình dục trước hôn nhân có nguồn gốc từ khái niệm về các giai đoạn của cuộc đời. Giai đoạn thứ nhất gọi là Brahmacharya, nghĩa là trinh khiết. Sự độc thân được coi là động thái thích hợp cho cả nam và nữ trong giai đoạn này, giai đoạn tiền hôn nhân. Nhiều tu sĩ Ấn giáo (Sadhus) cũng sống độc thân theo luật nghiêm ngặt. Theo Ấn giáo, việc giao cấu được coi là hành vi thánh của sự sinh sản trong hôn nhân.

Mặc dù các tín đồ Do Thái giáo theo hệ phái Digambara đều sống độc thân, nhưng đa số những người theo đạo Giana (Jains) đều thuộc về hệ phái Shvetambara, được phép kết hôn và sinh con. Đạo đức của đạo Giana đòi hỏi người ta không được làm hại các sinh vật từ trong tư tưởng, lời nói hoặc hành động. Ngoại tình là vi phạm thỏa hiệp luân lý với người phối ngẫu, do đó mà bị cấm, còn gian dâm cũng bị coi là vi phạm tình trạng trinh khiết.

Các giáo huấn của Phật bao gồm Noble Eightfold Path (tạm dịch: Bát Quý Đạo), gồm sự phân chia gọi là “hành động đúng”. Theo Ngũ Huấn (Five Precepts) về đạo đức, các thiện nam tín nữ theo Upāsaka và Upāsikā nên tránh phạm tội về tính dục, còn các tu viện theo Bhikkhu và Bhikkhuni phải giữ khiết tịnh nghiêm ngặt.

Ngũ Huấn của Lão giáo (Taoism hoặc Daoism) bao gồm luật cấm hành vi tính dục, được hiểu là cấm tình dục ngoài hôn nhân đối với các tín đồ, và cấm tình dục đối với các tu sĩ.

Chân phước Mẹ Teresa Calcutta nói rằng tặng phẩm quý giá nhất mà bạn có thể trao cho người phối ngẫu trong ngày cưới là sự trinh tiết. Hãy suy nghĩ về điều đó. Bạn không thể là người duy nhất trên thế giới này có thể trao tặng món quà đó sao? Món quà như thế rất đặc biệt, quý giá hơn cả vàng bạc, thế nên bạn muốn nâng niu nó và bảo vệ nó bằng mọi cách. Bạn chỉ có thể trao món quà này một lần mà thôi, vì thế mà người chồng hoặc người vợ tương lai của bạn chắc chắn là người duy nhất trên thế giới xứng đáng nhận món quà đó một cách trọn vẹn là chính con người của bạn – cả tâm hồn và thể xác.

Nếu các bạn trẻ có quyết định này sớm để giữ trinh tiết cho tới khi kết hôn, họ không phải đối mặt với nỗi giằng co. Họ biết mục đích của mình và sẽ vui lòng làm mọi cách để đạt được ước muốn tốt lành. Họ sẽ cẩn trọng ở mọi nơi và mọi lúc. Họ sẽ đề phòng những chước cám dỗ, mọi tình huống khó khăn, và chuẩn bị tốt để tránh né. Họ sẽ thoải mái trưởng thành và tìm kiếm kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa dành cho cuộc đời họ. Họ sẽ không lo lắng về chuyện có kinh nguyệt “trễ”, mang thai, phá thai, ngừa thai, bệnh hoa liễu, bệnh AIDS, và các hậu quả khác về thể lý, tâm lý, tình cảm và tâm linh đối với việc “ăn cơm trước kẻng”. Họ thực sự tự trọng và tôn trọng người yêu, họ tin rằng họ sống theo cách làm đẹp lòng Thiên Chúa. Họ sẽ bảo vệ và tự cứu mình vì người mà Thiên Chúa đã chọn làm người bạn đời nếu hôn nhân là ơn gọi của họ.

Các bạn trẻ nghĩ gì về những điều như vậy? Họ có bao giờ nghe nói tới “trinh tiết”, “khiết tịnh”, “trong sạch”, “thùy mị” hoặc “tự chủ”? Phải chăng các từ ngữ này nghe y như là “ngoại ngữ” vì chẳng có ai sử dụng? Món quà quý giá này là trao tẳng cả con người mình không đáng để giữ riêng cho người phối ngẫu chăng? Thiên Chúa muốn như vậy. Ngài nói với chúng ta rằng đây là điều mà Ngài muốn ở chúng ta vì Ngài yêu thương chúng ta. Và Ngài trao ban cho chúng ta mọi ân sủng cần thiết để chúng ta có thể đạt được đức khiết tịnh.

Điều này rất quan trọng đối với các cha mẹ, trường học và nhà thờ, phải dạy các điều chân thật một cách rõ ràng và động viên lẫn nhau. Nếu không, các bạn trẻ sẽ chẳng bao giờ nghe được những điều này hoặc biết chân lý của Thiên Chúa, vì những điều đó không hề có trên radio, ti-vi, phim ảnh, âm nhạc, mà thế giới cũng không yêu thương hoặc quan tâm chăm sóc trẻ em. Thế nên nhiều bạn trẻ không còn trinh tiết và cũng chẳng tự trọng, vì họ tin rằng nói dối là điều tất nhiên của thế gian. Chúng ta phải cho họ niềm hy vọng và sự tự do của “sự trinh tiết thứ hai”. Họ có thể xin Thiên Chúa tha thứ và được tha thứ. Họ có thể “tái khởi đầu” và thề hứa giữ đức khiết tịnh cho tới lúc kết hôn. Họ cần có cơ hội và sự động viên để bắt đầu lại và thay đổi nhờ Hồng ân của Thiên Chúa.

Nếu chúng ta nhận thấy hôn nhân và tình nghĩa phu thê là phần thánh thiện trong kế hoạch của Thiên Chúa, chúng ta có thể hiểu được tầm quan trọng của đức khiết tịnh. Sự khiết tịnh bảo vệ người ta, củng cố người ta, xây dựng tính cách của người ta, động viên người ta kiềm chế, truyền cảm hứng để người ta tôn trọng, bảo đảm sự tự do, chống lại tính ích kỷ, và thích hợp với mọi người. Không dễ giữ đức khiết tịnh, nhưng có thể giữ được nhờ ơn Chúa. Đức khiết tịnh tái củng cố hôn nhân và làm cho mối quan hệ phu thê tốt đẹp, đặc biệt và thánh thiện. Tính thánh thiện của việc hợp tác với Thiên Chúa trong công cuộc sáng tạo của Ngài là tạo những sinh linh mới, đó là tặng phẩm quý giá chỉ nên chia sẻ trong sự an toàn của mối quan hệ yêu thương, đại lượng và thề hứa. Đó là cách của Chúa, và điều đó xứng đáng chờ đợi, bởi vì tặng phẩm hoàn hảo của tình yêu thuần khiết mà cô dâu và chú rể trao cho nhau trong ngày cưới thực sự là món quà quý giá vô cùng.

TRẦM THIÊN THU Chuyển ngữ

_______________________________

(*) Theo Giáo lý Công giáo, bảy nhân đức liên quan việc kết hợp của 4 nhân đức chính (thận trọng, công bình, kiềm chế, và can đảm) và 3 nhân đức đối thần (tin, cậy, mến). Các nhân đức này được các Giáo phụ gọi là bảy nhân đức. Sau đó một danh sách khác được phát triển, đôi khi gọi là “bảy thiên đức” (seven heavenly virtues), được đề nghị bởi một thủ lĩnh Kitô giáo tên là Aurelius Prudentius (mất khoảng năm 410 sau công nguyên) trong bài thơ “Psychomachia” (Cuộc Chiến Của Linh Hồn) do ông sáng tác. Bài thơ này có ghi bảy nhân đức đối lập với bảy tội trọng. Các nhân đức đó là Khiết tịnh, Tiết chế, Bác ái, Chuyên cần, Kiên nhẫn, Tử tế, và Khiêm nhường.